<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Chùa Thanh Long Cổ Tự &#187; Tài liệu</title>
	<atom:link href="https://thanhlongcotu.com/?cat=23&#038;feed=rss2" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://thanhlongcotu.com</link>
	<description>Chùa Thanh Long Cổ Tự</description>
	<lastBuildDate>Wed, 11 Feb 2026 05:41:29 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.0</generator>
		<item>
		<title>CON ĐƯỜNG KHOAN DUNG</title>
		<link>https://thanhlongcotu.com/?p=4459</link>
		<comments>https://thanhlongcotu.com/?p=4459#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 21 Jan 2025 07:48:27 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Thanh Long Cổ Tự</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tài liệu]]></category>
		<category><![CDATA[Văn Học]]></category>

		<guid isPermaLink="false">https://thanhlongcotu.com/?p=4459</guid>
		<description><![CDATA[Chúng ta không thể nào có hạnh phúc, nếu trong tâm thức của mỗi chúng ta có quá nhiều tham lam mơ ước . Bất cứ ước mơ nào cũng làm cho đời sống của chúng ta đều đi bị hỏng đất. Ta có những giấc mơ làm giàu, giấc mơ làm những nhà tỷ phú. [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2025/01/kdung1.jpg"><img class="aligncenter size-thumbnail wp-image-4464" title="kdung" src="https://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2025/01/kdung1-150x150.jpg" alt="" width="150" height="150" /></a></p>
<p><span style="font-size: 14px;"><span style="color: #0000ff;">Chúng ta không thể nào có hạnh phúc, nếu trong tâm thức của mỗi chúng ta</span></span><span style="color: #0000ff; font-size: 14px;"> có quá nhiều tham lam mơ ước . Bất cứ ước mơ nào cũng làm cho đời sống của chúng ta đều đi bị hỏng đất.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Ta có những giấc mơ làm giàu, giấc mơ làm những nhà tỷ phú. Chính giấc mơ nầy đã đưa ta chạy đua về hướng ấy, và đã giết chết đời sống thanh thản và tự do của ta.</span><br />
<span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Không có nhà tỷ phú nào không kiêu hãnh về tiền bạc, nhưng chính niềm kiêu hãnh ấy, lại tạo ra những sự lo lắng, sợ hãi, nghi ngờ và bất hạnh cho họ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Ở trên đời, không có người tham giàu nào bận rộn đối với áo cơm, nhưng họ rất bận rộn đối với cách cất giữ tiền bạc, họ lo lắng về sự mất mát tiền bạc và tài sản.. Những sự biến động bất chừng của thị trường chứng khoán, hay bất cứ những sự biến động nào, đều khiến cho họ ăn không ngon và ngủ không yên.</span><br />
<span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Trong tâm thức họ, những hạt giống nghi ngờ và đề phòng, chúng hoạt động hết sức mãnh liệt và vì vậy, họ tuy ở trên tiền bạc, mà hạnh phúc hay bình an đối với họ quả thực là hết sức khan hiếm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Có khi ta không ước mơ làm người giàu, nhưng ước mơ làm người có nhiều quyền lực trong xã hội. Chính ước mơ nầy đã giết chết những tâm hồn thanh thản và tự do của ta. Tâm kiêu mạn ở trong mỗi chúng ta thường làm sinh khởi những giấc mơ quyền lực cho ta và đưa ta chạy đua theo hướng ấy.</span><br />
<span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Ở trên đời không có người tham quyền lực nào thực sự có tự do. Và ở trong đời, không có người nắm quyền lực nào là không sợ hãi. Ta có thể đặt câu hỏi rằng, ở trên đời, ai là người có nhiều sự sợ hãi, lo lắng và đa nghi nhất? Trả lời chính xác cho câu hỏi ấy, chính là những người nắm quyền lực. Tại sao? Vì người đam mê quyền lực thường được dẫn khởi từ lòng tham và tâm kiêu mạn của họ. Lòng tham thường dẫn sinh sự lo lắng và sợ hãi. Lòng tham giết chết sự tự do trong đời sống của mỗi chúng ta. Và tâm kiêu mạn thường dẫn sinh cảm giác cô độc cho ta và giết chết đời sống từ hòa ở trong ta đối với mọi người.</span><br />
<span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Lại nữa, người nắm quyền lực, những hạt giống nghi ngờ hoạt động ở trong tâm thức của họ là vận hành thường xuyên và mãnh liệt, khiến niềm tin tưởng của họ đối với mọi người bị xói mòn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Có đôi khi ta không ước mơ làm giàu hay ước mơ nắm quyền lực, nhưng lại ước mơ mình sẽ là người đẹp hay ít ra mình được sống với người đẹp.</span><br />
<span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Ước mơ mình sẽ là người đẹp và được sống với người đẹp, đó là những ước mơ chung của tất cả chúng ta. Nhưng, có những phương pháp nào giúp ta đạt được những ước mơ ấy? Biến ước mơ trở thành hiện thực chẳng đơn giản chút nào.</span><br />
<span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Có những khi ta chỉ đẹp thể xác, nhưng không đẹp tâm hồn, hoặc có khi ta chỉ đẹp tâm hồn, nhưng không đẹp thể xác, hoặc có khi ta không đẹp thể xác mà cũng không đẹp luôn cả tâm hồn và có những khi ta vừa đẹp thể xác và đẹp luôn cả tâm hồn.</span><br />
<span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Ta muốn đẹp thể xác, các Thẩm mỹ viện có thể giúp được cho ta, nhưng ta muốn đẹp tâm hồn, thì không có bất cứ Thẩm mỹ viện nào có thể giúp ta nổi.</span><br />
<span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Ta muốn có một tâm hồn đẹp, thì tâm hồn ta phải có đầy đủ bốn chất liệu Từ, Bi, Hỷ, Xả.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Ta có lòng Từ là ta biết chăm sóc nỗi đau của mình và người khác, khiến cho những nỗi đau ấy không loan lỗ ra trên mặt ý thức, cũng như trên những biểu hiện thực tế của thân và ngữ.</span><br />
<span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Ta có lòng Bi là ta biết làm giảm và triệt tiêu khổ đau của ta và người, không phải chỉ ở mặt hiện tượng mà ở mặt bản chất; triệt tiêu không phải chỉ mặt biểu hiện của ý thức mà ở mặt tích lũy của tâm thức.</span><br />
<span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Ta có lòng Hỷ là tâm ta không có những hạt giống khoe khoan những gì tốt đẹp của mình và tật đố hay ganh tỵ đối với những gì tốt đẹp của người. Ta biết khắc phục những gì thấp kém nơi ta và tùy thuận với những gì tốt đẹp của người.</span><br />
<span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Ta có lòng Xả là ta có hành động để giúp người, nhưng tâm không hề thủ lợi, không hề khởi lên những ý niệm về cái tôi và cái của tôi.</span><br />
<span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Bốn chất liệu Từ, Bi, Hỷ, Xả nầy sẽ tạo nên một tâm hồn và đời sống cao đẹp cho ta, không phải chỉ khi ta thức mà cả khi ta ngủ, không phải chỉ trước mặt mọi người mà cả sau lưng mọi người, không phải chỉ nơi nầy mà cả nơi kia, không phải chỉ đời nầy mà cả đời khác nữa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Như vậy,<em><strong> Từ, Bi, Hỷ, Xả</strong></em> là chất liệu tạo nên cái đẹp cho ta từ nội dung đến hình thức, từ thân thể đến tâm hồn. Cái đẹp ấy, chính là cái đẹp của chân thiện và chân mỹ.</span><br />
<span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Ta chỉ ước mơ mà không có phương pháp thực hiện, thì những ước mơ của ta chỉ là hão huyền. Hạnh phúc đến với ta chỉ là những kết quả của ước mơ. Kết quả ấy chỉ xẩy ra cho ta khi nào ta có một tác nhân và tác duyên lành mạnh. Tác nhân lành mạnh là tâm cao thượng và trong sáng nơi ta; tác duyên lành mạnh là thầy ta, là những thiện hữu tri thức của ta đã tác thành và hỗ trợ cho ta khiến cho tâm từ bi, tâm hỷ xả nơi ta càng lúc càng phát triển lớn mạnh làm dẫn sinh hoa trái của hạnh phúc.</span><br />
<span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Hoa trái hạnh phúc đích thực chỉ có mặt, khi tâm ta đã có đầy đủ chất liệu của khoan dung và độ lượng hay trí tuệ và từ bi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;"><strong>Thích Thái Hòa</strong> (Theo Hoằng Pháp)</span></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://thanhlongcotu.com/?feed=rss2&#038;p=4459</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>BỐN HẠNG NGƯỜI ĐÁNG THÂN CẬN</title>
		<link>https://thanhlongcotu.com/?p=4120</link>
		<comments>https://thanhlongcotu.com/?p=4120#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 04 Feb 2024 08:51:47 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Thanh Long Cổ Tự</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tài liệu]]></category>
		<category><![CDATA[Văn Học]]></category>

		<guid isPermaLink="false">https://thanhlongcotu.com/?p=4120</guid>
		<description><![CDATA[Bốn hạng người đáng thân cận - Một trong những dấu hiệu để xét đoán về nhân cách của ai đó là nhìn xem họ thân thiết với những hạng người nào. Bởi gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. Đi trong mù sương lâu dần sẽ thấm ướt. Vì thế mỗi người cần [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><span style="font-size: 14px;"><a href="https://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2024/02/ban.jpg"><img class="aligncenter size-medium wp-image-4121" title="ban" src="https://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2024/02/ban-300x156.jpg" alt="" width="300" height="156" /></a></span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Bốn hạng người đáng thân cận</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">- Một trong những dấu hiệu để xét đoán về nhân cách của ai đó là nhìn xem họ thân thiết với những hạng người nào. Bởi gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. Đi trong mù sương lâu dần sẽ thấm ướt. Vì thế mỗi người cần biết chọn bạn mà chơi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Chơi với bạn hiền thì mình được thơm lây, trở nên thiện lành. Ngược lại, chơi với bạn ác thì lâu ngày mình cũng bị tập nhiễm theo thói xấu của họ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">“Một thời Phật ở tại núi Kỳ-xà-quật, thành La-duyệt-kỳ cùng với chúng Đại Tỳ-kheo 1.250 người.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Bấy giờ, vào lúc thích hợp, Ðức Thế Tôn khoác y cầm bát vào thành khất thực. Lúc bấy giờ tại thành La-duyệt-kỳ có con trai của trưởng giả tên là Thiện Sinh, vào buổi sáng sớm, ra khỏi thành, đi đến khu vườn công cộng sau khi vừa tắm gội xong, cả mình còn ướt, hướng đến các phương Đông, Tây, Nam, Bắc, Trên, Dưới mà lạy khắp cả.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Phật lại bảo Thiện Sinh:</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">- Có bốn hạng người thân đáng thân vì thường đem lại lợi ích và che chở. Những gì là bốn? 1- Ngăn làm việc quấy. 2- Thương yêu. 3- Giúp đỡ. 4- Đồng sự. Đó là bốn hạng người thân đáng thân cận.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">- Này Thiện Sinh, hạng ngăn quấy thì thường làm bốn việc đem lại nhiều lợi ích và hay che chở: 1- Thấy người làm ác thì hay ngăn cản. 2- Chỉ bày điều chánh trực. 3- Có lòng thương tưởng. 4- Chỉ đường sinh Thiên. Đó là bốn trường hợp ngăn cản việc quấy đem lại nhiều lợi ích và hay che chở.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">- Hạng thương yêu thì thường làm bốn việc: 1- Mừng khi mình được lợi. 2- Lo khi mình gặp hại. 3- Ngợi khen đức tốt mình. 4- Thấy mình nói ác thì tìm cách ngăn cản. Đó là bốn điều thương yêu đem lại nhiều lợi ích và hay che chở.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">- Hạng giúp đỡ có bốn việc. Những gì là bốn? Đó là: 1- Che chở mình khỏi buông lung. 2- Che chở mình khỏi hao tài vì buông lung. 3- Che chở mình khỏi sợ hãi. 4- Khuyên bảo mình trong chỗ vắng người.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">- Hạng đồng sự thì thường làm bốn việc: 1- Không tiếc thân mạng với bạn. 2- Không tiếc của cải với bạn. 3- Cứu giúp bạn khỏi sợ hãi. 4- Khuyên bảo bạn lúc ở chỗ vắng người.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Nói như vậy xong, Ðức Thế Tôn lại nói bài tụng:</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Bạn ngăn ngừa điều quấy</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Bạn từ mẫn thương yêu</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Bạn làm lợi ích bạn</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Bạn đồng sự với bạn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Đó bốn hạng đáng thân</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Người trí đáng thân cận</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Thân hơn người thân khác</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Như mẹ hiền thân con.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Muốn thân người đáng thân</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Hãy thân bạn kiên cố</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Người bạn đủ giới hạnh</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Như lửa sáng soi người”.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">(Kinh Trường A-hàm,</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">kinh Thiện Sinh, số 16 [trích])</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Theo tuệ giác của Thế Tôn, bốn hạng người nêu trên đáng để thân cận, vì họ thường đem lại lợi ích và hay che chở cho mình. Ai ngăn ta làm ác, người ấy thật dũng cảm, rất đáng thân cận. Ai biết sẻ chia, mừng khi ta được lợi và lo khi ta bị hại, người ấy thực sự yêu thương ta, rất đáng thân cận. Ai che chở cho ta khi lo sợ, khi buông lung, khi thất thế sa cơ, người ấy hết lòng giúp đỡ ta, rất đáng thân cận. Ai sống hết mình, không tiếc thân mạng và tiền của, không nề lao nhọc, lại còn khuyên bảo ta tế nhị, kín đáo và chân tình, người ấy thực sự đồng hành với ta, rất đáng thân cận.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Ở đời, tìm ra những hạng người có bốn đặc điểm kể trên để thân cận là rất khó. Phải có nhân duyên, quan trọng là phải thành tâm hướng thiện thì mới có thể gặp gỡ và kết duyên lành với bạn tốt lâu dài. Gặp được người tốt mà mình chỉ nhờ cậy và không sửa mình cho tốt thì duyên lành ấy cũng chóng tan. Thế nên, phải phát khởi thiện duyên, nguyện sửa mình để sống lành mới mong gặp được bạn tốt, để cùng nhau xây dựng một cộng nghiệp hạnh phúc, an vui.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Quảng Tánh/Báo Giác Ngộ</span></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://thanhlongcotu.com/?feed=rss2&#038;p=4120</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>TUỆ và THỨC</title>
		<link>https://thanhlongcotu.com/?p=4114</link>
		<comments>https://thanhlongcotu.com/?p=4114#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 04 Feb 2024 08:39:03 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Thanh Long Cổ Tự</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tài liệu]]></category>
		<category><![CDATA[Văn Học]]></category>

		<guid isPermaLink="false">https://thanhlongcotu.com/?p=4114</guid>
		<description><![CDATA[Tuệ &#38; thức - Tuệ là trí tuệ tức cái biết, thức là nhận thức cũng là cái biết. Cả hai đều là cái biết nhưng có đặc điểm khác nhau. Pháp thoại này, Tôn giả Xá-lợi-phất đã khéo léo thỉnh ý Tôn giả Đại Câu-hy-la nhằm giúp hội chúng sơ cơ nhận ra sự [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14px; color: #993300;"><img class="aligncenter size-full wp-image-4115" title="tue" src="https://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2024/02/tue.jpg" alt="" width="259" height="194" />Tuệ &amp; thức</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">- Tuệ là trí tuệ tức cái biết, thức là nhận thức cũng là cái biết. Cả hai đều là cái biết nhưng có đặc điểm khác nhau. Pháp thoại này, Tôn giả Xá-lợi-phất đã khéo léo thỉnh ý Tôn giả Đại Câu-hy-la nhằm giúp hội chúng sơ cơ nhận ra sự khác biệt này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">Một thời Phật du hóa tại thành Vương-xá, trong rừng Trúc, vườn Ca-lan-đa. Bấy giờ Tôn giả Xá-lê Tử vào lúc xế từ tĩnh tọa dậy, đi đến chỗ Tôn giả Đại Câu-hy-la, chào hỏi nhau xong rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Xá-lê Tử nói rằng:</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">- Này Hiền giả Đại Câu-hy-la, tôi có điều muốn hỏi, Hiền giả nghe cho chăng?</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp rằng:</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">- Thưa Tôn giả Xá-lê Tử, muốn hỏi xin cứ hỏi, tôi nghe xong sẽ suy nghĩ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">Tôn giả Xá-lê Tử hỏi rằng: …</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">- Thế nào là trí tuệ?</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp rằng:</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">- Biết như vậy, cho nên nói là trí tuệ. Biết những gì? Biết như thật ‘Đây là Khổ’, biết như thật ‘Đây là Khổ tập’, ‘Đây là Khổ diệt’, ‘Đây là Khổ diệt Đạo’. Biết như vậy cho nên được nói là trí tuệ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">Lại hỏi:</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">- Hiền giả Đại Câu-hy-la, thế nào là thức?</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">- Thức, nhận thức, cho nên nói là thức. Nhận thức những gì? Nhận thức sắc, nhận thức thanh, hương, vị, xúc, pháp. Thức, nhận thức, cho nên nói là thức.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">Lại hỏi:</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">- Hiền giả Đại Câu-hy-la, ngài lấy gì để biết?</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">- Tôi do trí tuệ mà biết.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">Lại hỏi:</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">- Hiền giả Đại Câu-hy-la, trí tuệ có nghĩa gì? Có sự thù thắng gì? Có công đức gì?</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">- Trí tuệ có nghĩa yểm ly, có nghĩa vô dục, có nghĩa thấy như thật.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">Tôn giả Xá-lê Tử nghe xong khen rằng:</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">Lành thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la”.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">(Kinh Trung A-hàm, phẩm Bô-đa-lợi, kinh Đại Câu-hy-la, số 211 [trích, lược])</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;"> </span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">Tuệ là trí tuệ tức cái biết, thức là nhận thức cũng là cái biết. Cả hai đều là cái biết nhưng có đặc điểm khác nhau. Pháp thoại này, Tôn giả Xá-lợi-phất đã khéo léo thỉnh ý Tôn giả Đại Câu-hy-la nhằm giúp hội chúng sơ cơ nhận ra sự khác biệt này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">Cái biết thông thường mà chúng ta sử dụng hàng ngày là nhờ sáu giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) mà biết sáu trần cảnh (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). Nhờ đó, con người biết được thân, tâm và thế giới xung quanh. Biết nhiều, biết đúng là nhờ học cao hiểu rộng, kinh nghiệm sâu, trí nhớ tốt, thông minh lanh lợi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">Giáo lý đạo Phật trân trọng cái biết thức tri này. Nếu được định hướng đúng, kho tàng tri thức của nhân loại sẽ góp phần xây dựng xã hội và thế giới tốt đẹp hơn. Có điều cái biết này có giới hạn, ngoài phạm vi nhận thức của giác quan thì con người không thể biết, phải nhờ máy móc hỗ trợ. Vì thế có vô vàn sự vật, hiện tượng mà nhân loại chưa biết hết, hoặc chỉ biết một phần qua lăng kính nghiệp của loài người.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">Quan trọng hơn, cái biết của thức tri khó nhận ra sự thật; nhất là sự thật về Bốn Thánh đế. Thức tri cũng không có khả năng làm giảm thiểu tham sân si, thậm chí khiến cho chúng ngày càng lớn mạnh thêm. Đó cũng là lý do vì sao khi tri thức của nhân loại ngày càng phát triển thì chiến tranh, xung đột, bạo lực và khổ đau trên thế giới vẫn không giảm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">Trí tuệ đã hóa giải được bài toán khó khăn này. Bước đầu là nhận ra sự thật về khổ, vô thường, vô ngã của thân, tâm và thế giới. Biết được khổ, nguyên nhân của khổ và con đường diệt khổ chính là thực hành Bát Thánh đạo để vượt thoát khổ đau. Nhờ thấy biết đúng sự thật nên xả ly, buông bỏ tham ái và chấp thủ. Nhân khổ đau được chấm dứt, hoa trái hòa bình, an lạc sẽ xanh tươi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">Quảng Tánh/Báo Giác Ngộ</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;"> </span></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://thanhlongcotu.com/?feed=rss2&#038;p=4114</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>TỪ Ô CỬA THIỀN &#8211; LẶNG NHÌN CUỘC SỐNG</title>
		<link>https://thanhlongcotu.com/?p=3605</link>
		<comments>https://thanhlongcotu.com/?p=3605#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 08 Jan 2023 07:49:29 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Thanh Long Cổ Tự</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tài liệu]]></category>
		<category><![CDATA[Văn Học]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thanhlongcotu.net/?p=3605</guid>
		<description><![CDATA[“Người tâm đã tĩnh lặng thấy “tài, sắc, danh…” như chất độc, vì chúng dễ dàng giết chết những điều thiện trong lòng; nhưng với người chưa làm chủ được tâm, họ luôn xem những thứ đó như những gì tuyệt diệu nhất thế gian”. “Tài, sắc, danh…” trong kinh gọi là “ngũ dục”, năm [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<h1><a href="https://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2023/01/images-1.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-3648" title="images (1)" src="https://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2023/01/images-1.jpg" alt="" width="275" height="183" /></a></h1>
<h1><span style="font-size: 14px;"><strong>“Người tâm đã tĩnh lặng thấy “tài, sắc, danh…” như chất độc, vì chúng dễ dàng giết chết những điều thiện trong lòng; nhưng với người chưa làm chủ được tâm, họ luôn xem những thứ đó như những gì tuyệt diệu nhất thế gian”.</strong></span></h1>
<h1><span style="font-size: 14px;">“Tài, sắc, danh…” trong kinh gọi là “ngũ dục”, năm thú vui trần tục: tài sản, nhan sắc, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ.</span></h1>
<h1><span style="font-size: 14px;">Những thứ đó cũng là niềm vui, niềm vui trong chốn trần tục, chúng biến những con người còn mãi loay hoay trong đó thành người trần tục, và biến những nơi họ đi qua thành nơi trần tục; còn những người cũng sống trong đó, cũng đi ngang qua đó, cũng giáp mặt với chúng thường ngày, nhưng không để “tài, sắc, danh…” đè nặng lòng mình là người thoát tục, không vướng vào nên thoát, như dòng nước đi xuyên qua tấm lưới giăng.</span><span style="font-size: 14px;">Tất cả chúng ta ai cũng đi tìm hạnh phúc, mỗi người đi về một hướng khác nhau, tìm đến nhiều thứ khác nhau, tìm kiếm một nơi để cất bình yên của mình vào đó.</span><br />
<span style="font-size: 14px;"> Người đang cất bình yên của mình vào đâu ?!  </span><span style="font-size: 14px;">Có lẽ ai cũng biết, nếu muốn hạnh phúc một ngày thì đuổi theo và giữ lấy những điều phù hoa “tài sắc danh…”; còn nếu muốn hạnh phúc một đời thì cố giữ lấy trái tim từ bi và hiểu biết rồi đi qua cuộc sống. </span><span style="font-size: 14px;">Niềm vui mong manh trong những “tài sắc danh…” là thứ mà cuộc sống giăng ra để cho chúng ta vướng lại trong đó, loay hoay mãi trong đó, có kẻ vướng vào sắc, có kẻ vướng vào danh, có người vướng vào tài sản… rồi quên đi giấc mơ bình yên thực sự ngày trước của mình. </span><span style="font-size: 14px;">Có kẻ đã mang hết dũng khí quay lưng đi, nhưng do không chịu nổi giá lạnh từ cuộc sống, nên lầm lũi quay trở về, nhặt lên lại hòn than cháy đỏ mà ngày trước đã từng làm mình bỏng tay…</span></h1>
<h1><span style="font-size: 14px;">NGUỒN : BANMAIHONG</span></h1>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://thanhlongcotu.com/?feed=rss2&#038;p=3605</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>SỐNG THIỀN</title>
		<link>https://thanhlongcotu.com/?p=1514</link>
		<comments>https://thanhlongcotu.com/?p=1514#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 20 Jan 2017 03:23:38 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Thanh Long Cổ Tự</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tài liệu]]></category>
		<category><![CDATA[Văn Học]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thanhlongcotu.net/?p=1514</guid>
		<description><![CDATA[THỜI GIAN Hãy tưởng tượng có một ngân hàng ghi vào tài khoản của bạn 86. 400 đô la mỗi sáng. Nhưng đêm về ngân hàng sẽ xóa sạch tiền nếu bạn không dùng hết trong ngày. Vậy, phần sai ngạch của ngày này không được chuyển sang ngày khác. Bạn sẽ làm gì&#8230; Dĩ [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p align="center"><span style="font-size: 16px; color: #800000;"><strong>THỜI GIAN<br />
</strong></span></p>
<p><span style="color: #800000;"><a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2017/01/dh.jpg"><span style="color: #800000;"><img class="aligncenter size-full wp-image-1515" title="dh" src="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2017/01/dh.jpg" alt="" width="229" height="220" /></span></a></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 16px; color: #800000;">Hãy tưởng tượng có một ngân hàng ghi vào tài khoản của bạn 86. 400 đô la mỗi sáng. Nhưng đêm về ngân hàng sẽ xóa sạch tiền nếu bạn không dùng hết trong ngày. Vậy, phần sai ngạch của ngày này không được chuyển sang ngày khác. Bạn sẽ làm gì&#8230; Dĩ nhiên là bạn tận dụng từng đồng để không lãng phí vì số tiền mất đi, đúng không ?&#8230;</span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #800000;"> Mỗi người trong chúng ta đều có một ngân hàng như thế, đó chính là “Thời Gian”.</span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #800000;"> Mỗi sáng nó ghi vào tài khoản của bạn 86. 400 giây. Khi đêm về, nó xóa hết phần thời gian bạn chưa kịp đầu tư vào việc có ích. Ngân hàng này không chuyển bất cứ khoản sai ngạch nào còn lại trong ngày này và cũng không cho bạn chi trội.</span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #800000;"> Mỗi ngày bạn nhận được một tài khoản mới. Cứ đêm về phần dư lại trong ngày sẽ bị xóa. Nếu bạn không tận dụng được khoản gởi đó, người thiệt thòi chính là bạn. Không thể quay lại quá khứ, cũng không thể cưỡng lại “ngày mai”. Bạn phải sống trong hiện tại chỉ bằng khoản đã được gởi của chính ngày hôm nay. Vì vậy, hãy đầu tư thời gian của từng ngày một cách khôn ngoan để làm lợi nhiều nhất cho sức khỏe, hạnh phúc, và sự thành đạt của chính bản thân bạn. </span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #800000;"> Đồng hồ vẫn đều đều gõ nhịp, bạn hãy tận dụng ngày hôm nay.</span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #800000;"> Để hiểu được giá trị của một năm, hãy hỏi một học sinh vừa thi rớt.</span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #800000;"> Để hiểu được giá trị của một tháng, hãy hỏi một bà mẹ sinh non.</span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #800000;"> Để hiểu được giá trị của một tuần, hãy hỏi tổng biên tập của một tờ tuần báo.</span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #800000;"> Để hiểu được giá trị của một giờ, hãy hỏi người yêu nhau đang mong chờ được gặp mặt.</span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #800000;"> Để hiểu được giá trị của một phút, hãy hỏi người vừa trễ tàu.</span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #800000;"> Để hiểu được giá trị của một giây, hãy hỏi một người vừa thoát hiểm trong gang tấc.</span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #800000;"> Để hiểu giá trị của một nghìn giây, hãy hỏi chủ nhân của một chiếc huy chương Thế Vận Hội.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2017/01/mb.jpg"><img class="aligncenter" title="mb" src="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2017/01/mb.jpg" alt="" width="284" height="177" /></a></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 16px; color: #800000;">Hãy biết trân trọng mỗi phút giây bạn đang có trong tay! Và cần phải trân trọng nó hơn nữa khi bạn sẻ chia thời gian với một ai đó đặc biệt, đặc biệt đến mức bạn phải dành thời gian của mình cho người ấy.</span></p>
<p style="text-align: left;"> <a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2017/01/mb.jpg"><br />
</a><a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2017/01/nc.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-1591" title="nc" src="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2017/01/nc.jpg" alt="" width="259" height="194" /></a></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 16px; color: #800000;">Hãy nhớ rằng thời gian thì không chờ đợi ai cả.</span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #800000;"><em> Ngày hôm qua là quá khứ<br />
Ngày mai là một điều bí ẩn<br />
Còn hôm nay là một món quà<br />
Chính vì vậy mà người ta vẫn gọi<br />
Hiện tại là món quà của cuộc sống!</em></span></p>
<p><span style="color: #800000;">                                                                                                                                                                           Sưu tầm      -TLCT-</span></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://thanhlongcotu.com/?feed=rss2&#038;p=1514</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>VĂN HỌC</title>
		<link>https://thanhlongcotu.com/?p=1079</link>
		<comments>https://thanhlongcotu.com/?p=1079#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 01 Feb 2016 10:10:18 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Thanh Long Cổ Tự</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tài liệu]]></category>
		<category><![CDATA[Văn Học]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thanhlongcotu.net/?p=1079</guid>
		<description><![CDATA[&#160; Nguồn gốc và ý nghĩa nhân văn của Tết Nguyên đán (PGVN) Tết Nguyên Đán là lễ hội lớn nhất trong các lễ hội truyền thống của Việt Nam, là điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới, giữa một chu kỳ vận hành của đất trời, vạn vật cỏ cây Tết Nguyên [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&nbsp;</p>
<h1><a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2016/01/tet-ng.dan_.jpg"><img class="aligncenter" title="tet ng.dan" src="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2016/01/tet-ng.dan_.jpg" alt="" width="275" height="183" /></a></h1>
<h1>Nguồn gốc và ý nghĩa nhân văn của Tết Nguyên đán</h1>
<p><strong><em>(PGVN)</em></strong></p>
<h2>Tết Nguyên Đán là lễ hội lớn nhất trong các lễ hội truyền thống của Việt Nam, là điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới, giữa một chu kỳ vận hành của đất trời, vạn vật cỏ cây</h2>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"><a href="http://phatgiao.org.vn/van-de-quan-tam/201401/Tet-Ta-tet-Tay-Tet-cua-ai-day-9467/"><span style="color: #003300;">Tết Nguyên Đán Việt Nam</span></a> có ý nhĩa nhân văn vô cùng sâu sắc, thể hiện sự trường tồn cuộc sống, khao khát của con người về sự hài hòa Thiên &#8211; Địa &#8211; Nhân.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;">Tết Nguyên Đán là sự biểu hiện của mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên trong tinh thần văn hóa nông nghiệp; với gia tộc và xóm làng trong tính cộng đồng dân tộc; với niềm tin thiêng liêng, cao cả trong đời sống tâm linh&#8230;</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"><strong>* Tết Nguyên Đán</strong><strong> </strong></span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"> </span><span style="color: #003300; font-size: 16px;">Tết Nguyên Đán (hay còn gọi là Tết Cả, Tết Ta, Tết Âm lịch, Tết Cổ truyền, Tết năm mới hay chỉ đơn giản: Tết) là dịp lễ quan trọng nhất trong văn hóa của người Việt Nam và một số các dân tộc chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc khác. Nguyên nghĩa của chữ &#8220;Tết&#8221; chính là &#8220;tiết&#8221;. Hai chữ &#8220;Nguyên Đán&#8221; có gốc chữ Hán; &#8220;nguyên&#8221; có nghĩa là sự khởi đầu hay sơ khai và &#8220;đán&#8221; là buổi sáng sớm. Cho nên đọc đúng phiên âm phải là &#8220;Tiết Nguyên Đán&#8221; (Tết Nguyên Đán được người Trung Quốc ngày nay gọi là Xuân tiết, Tân niên hoặc Nông lịch tân niên).</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"> </span><span style="color: #003300; font-size: 16px;">Do cách tính của Âm lịch ViệtNamcó khác với Trung Quốc cho nên Tết Nguyên Đán của người ViệtNamkhông hoàn toàn trùng với Tết của người Trung Quốc và các nước chịu ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Quốc khác.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"> Vì Âm lịch là lịch theo chu kỳ vận hành của mặt trăng nên Tết Nguyên Đán muộn hơn Tết Dương lịch. Do quy luật 3 năm nhuận một tháng của Âm lịch nên ngày đầu năm của dịp Tết Nguyên Đán không bao giờ trước ngày 21 tháng 1 Dương lịch và sau ngày 19 tháng 2 Dương lịch mà thường rơi vào khoảng cuối tháng 1 đến giữa tháng 2 Dương lịch. Toàn bộ dịp Tết Nguyên Đán hàng năm thường kéo dài trong khoảng 7 đến 8 ngày cuối năm cũ và 7 ngày đầu năm mới (23 tháng Chạp đến hết ngày 7 tháng Giêng).</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"><strong> *</strong></span><strong style="color: #003300; font-size: 16px;"> Nguồn gốc Tết Nguyên Đán </strong></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"> </span><span style="color: #003300; font-size: 16px;">Theo lịch sử Trung Quốc, nguồn gốc Tết Nguyên Đán có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế và thay đổi theo từng thời kỳ. Đời Tam Vương, nhà Hạ chuộng màu đen nên chọn tháng giêng, tức tháng Dần. Nhà Thương thích màu trắng nên lấy tháng Sửu, tức tháng chạp, làm tháng đầu năm. Nhà Chu ưa sắc đỏ nên chọn tháng Tý, tức tháng mười một, làm tháng Tết. Các vua chúa nói trên quan niệm về ngày giờ &#8220;tạo thiên lập địa&#8221; như sau: giờ Tý thì có trời, giờ Sửu thì có đất, giờ Dần sinh loài người nên đặt ra ngày Tết khác nhau.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"> </span><span style="color: #003300; font-size: 16px;">Đời ĐôngChu, Khổng Tử đổi ngày Tết vào một tháng nhất định là tháng Dần. Đời nhà Tần (thế kỷ 3 TCN), Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi, tức tháng mười. Đến thời nhà Hán, Hán Vũ Đế (140 TCN) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần, tức tháng giêng. Từ đó về sau, không còn triều đại nào thay đổi về tháng Tết nữa.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"> </span><span style="color: #003300; font-size: 16px;">Đến đời Đông Phương Sóc, ông cho rằng ngày tạo thiên lập địa có thêm giống gà, ngày thứ hai có thêm chó, ngày thứ ba có thêm lợn, ngày thứ tư sinh dê, ngày thứ năm sinh trâu, ngày thứ sáu sinh ngựa, ngày thứ bảy sinh loài người và ngày thứ tám mới sinh ra ngũ cốc.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"> </span><span style="color: #003300; font-size: 16px;">Vì thế, ngày Tết thường được kể từ ngày mồng một cho đến hết ngày mồng bảy.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"> *</span><strong style="color: #003300; font-size: 16px;"> Ý nghĩa nhân văn của Tết Nguyên Đán Việt Nam</strong></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"> *</span><strong style="color: #003300; font-size: 16px;"> <em>Tết Nguyên Đán biểu hiện sự giao cảm giữa trời đất và con người với thần linh</em></strong></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"><em> </em></span><span style="color: #003300; font-size: 16px;">Xét ở góc độ mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Tết &#8211; do tiết (thời tiết) thuận theo sự vận hành của vũ trụ, biểu hiện ở sự chu chuyển lần lượt các mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông &#8211; có một ý nghĩa đặc biệt đối với một xã hội mà nền kinh tế vẫn còn dựa vào nông nghiệp làm chính.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;">Theo tín ngưỡng dân gian bắt nguồn từ quan niệm &#8220;Ơn trời mưa nắng phải thì&#8221;, người nông dân còn cho đây là dịp để tưởng nhớ đến các vị thần linh có liên quan đến sự được, mất của mùa màng như thần Đất, thần Mưa, thần Sấm, thần Nước, thần Mặt trời&#8230; người nông dân cũng không quên ơn những loài vật, cây cối đã giúp đỡ, nuôi sống họ, từ hạt lúa đến trâu bò, gia súc, gia cầm trong những ngày này.</span></p>
<p><a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2016/02/images-4.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-1126" title="images (4)" src="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2016/02/images-4.jpg" alt="" width="275" height="183" /></a></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"><strong>* <em>Tết Nguyên Đán là ngày đoàn viên của mọi gia đình</em></strong></span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #003300;"> Người Việt Nam có tục hằng năm mỗi khi Tết đến, dù làm bất cứ nghề gì, ở bất cứ nơi đâu đều mong được trở về sum họp dưới mái ấm gia đình trong 3 ngày Tết, được khấn vái trước bàn thờ tổ tiên, thăm lại ngôi nhà thờ, ngôi mộ, giếng nước, mảnh sân nhà,&#8230; được sống lại với những kỷ niệm đầy ắp yêu thương của tuổi thơ yêu dấu. &#8220;Về quê ăn Tết&#8221;, đó không phải là một khái niệm thông thường đi hay về, mà là một cuộc hành hương về với cội nguồn, nơi chôn rau cắt rốn.</span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #003300;"> Theo quan niệm của người Việt Nam, ngày Tết đầu xuân là ngày đoàn tụ, đoàn viên, mối quan hệ họ hàng làng xóm được mở rộng ra, ràng buộc lẫn nhau thành đạo lý chung cho cả xã hội: tình cảm gia đình, tình cảm thầy trò, bệnh nhân với thầy thuốc, ông mai bà mối đã từng tác thành đôi lứa, bè bạn cố tri&#8230;</span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #003300;"> Tết cũng là ngày đoàn tụ với cả những người đã mất. Từ bữa cơm tối đêm 30, trước giao thừa, các gia đình đã thắp hương mời hương linh ông bà và tổ tiên và những người thân đã qua đời về ăn cơm, vui Tết với con cháu (cúng gia tiên). Trong mỗi gia đình ViệtNam, bàn thờ gia tiên có một  vị trí rất quan trọng. Bàn thờ gia tiên ngày Tết là sự thể hiện lòng tưởng nhớ, kính trọng của người Việt đối với tổ tiên, người thân đã khuất với những mâm ngũ quả được lựa chọn kỹ lưỡng; mâm cỗ với nhiều món ngon hay những món ăn quen thuộc của người đã mất.</span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #003300;"> Từ đây cho đến hết Tết, khói hương trên bàn thờ gia tiên quyện với không khí thiêng liêng của sự giao hòa vũ trụ làm cho con người trở nên gắn bó với gia đình của mình hơn bao giờ hết. Để sau Tết Nguyên Đán, cuộc sống lại bắt đầu một chu trình mới của một năm. Mọi người trở về với công việc thường nhật của mình, mang theo những tình cảm gia đình đầm ấm có được trong những ngày Tết để hướng đến những niềm vui trong cuộc sống và những thành công mới trong tương lai.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"><strong>* <em>Tết Nguyên Đán là ngày ” làm mới”</em></strong></span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #003300;"> Tết là ngày đầu tiên trong năm mới, mọi người có cơ hội ngồi ôn lại việc cũ và “làm mới” mọi việc. Việc làm mới có thể được bắt đầu về hình thức như dọn dẹp, quét vôi, sơn sửa trang trí lại nhà cửa. Sàn nhà được chùi rửa, chân nến và lư hương được đánh bóng. Bàn ghế tủ giường được lau chùi sạch sẻ.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;">Người lớn cũng như trẻ con đều tắm rửa và mặc quần áo mới. Đây cũng là dịp mọi người làm mới lại về phần tình cảm và tinh thần để mối liên hệ với người thân được gắn bó hơn, tinh thần thoải mái, tươi vui hơn&#8230; Bao nhiêu mối nợ nần đều được thanh toán trước khi bước qua năm mới. Với mỗi người, những buồn phiền, cãi vã được dẹp qua một bên. Tối thiểu ba ngày Tết, mọi người cười hòa với nhau, nói năng từ tốn, lịch sự để mong suốt năm sắp tới mối quan hệ được tốt đẹp.</span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #003300;"> Người ViệtNam tin rằng những ngày Tết vui vẻ đầu năm báo hiệu một năm mới tốt đẹp sẽ tới. Năm cũ đi qua mang theo những điều không may mắn và năm mới bắt đầu mang đến cho mọi người niềm tin lạc quan vào cuộc sống. Nếu năm cũ khá may mắn, thì sự may mắn sẽ kéo dài qua năm sau.Với ý nghĩa này, Tết còn là ngày của lạc quan và hy vọng.</span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #003300;"> Tết là sinh nhật của tất cả mọi người, ai cũng thêm một tuổi vì thế câu nói mở miệng khi gặp nhau là mừng nhau thêm một tuổi. Người lớn có tục mừng tuổi cho trẻ nhỏ và các cụ già để chúc các cháu hay ăn chóng lớn và ngoan ngoãn, học giỏi; còn các cụ thì sống lâu và mạnh khoẻ để con cháu được báo hiếu và hưởng ân phúc.</span></p>
<p><a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2016/02/images-5.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-1128" title="images (5)" src="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2016/02/images-5.jpg" alt="" width="275" height="183" /></a></p>
<p><span style="font-size: 18px;"><strong><em>* Tết Nguyên Đán là ngày tạ ơn</em></strong></span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;">Người Việt chọn ngày Tết làm cơ hội để tạ ơn. Con cái tạ ơn cha mẹ, cha mẹ tạ ơn ông bà, tổ tiên, nhân viên tạ ơn cấp chỉ huy. Ngược lại, lãnh đạo cũng cảm ơn nhân viên qua những buổi tiệc chiêu đãi hoặc quà thưởng để ăn Tết&#8230;</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;">. <em>Những biến đổi do tác động tiếp xúc văn hoá Đông &#8211; Tây trong Tết Nguyên Đán ở Việt Nam</em></span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #003300;"> Với một hệ thống lễ nghi vô cùng phong phú và giàu ý nghĩa nhân văn sâu sắc, tết Nguyên Đán đã trở thành ý thức hệ dân tộc, thể hiện bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam. Tết Nguyên Đán là một phong tục đẹp mà nhân dân ta còn duy trì tới ngày nay. Thế nhưng trong thời kỳ toàn cầu hoá như hiện nay cách ăn Tết của người ViệtNam phần nào đã thay đổi. Một số tập tục trong ngày Tết xưa không còn phù hợp với xã hội hiện đại đã dần bị loại bỏ.</span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #003300;"> Ngày nay người dân ăn Tết đã có phần đổi khác hơn so với trước kia, dường như dân ta ăn Tết  “tây hoá”dần đi, sự thay đổi đó phần nào được thể hiện qua cách đón tết và trong việc sắm tết.</span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #003300;"> Đời sống kinh tế được nâng cao đi kèm với những giá trị hưởng thụ về văn hoá tinh thần và vật chất, nhu cầu ăn ngon mặc đẹp là tự nhiên và có thể đáp ứng ngay khi cần chứ không phải đợi đến Tết như ngày xưa. Hơn nữa, ngày nay trong một năm có rất nhiều ngày lễ khác đang chi phối tầm quan trọng của ngày Tết cổ truyền. Vì vậy, dường như Tết bây giờ có phần nhạt hơn so với Tết xưa.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;">Trong đời sống hiện đại, việc sắm Tết cũng ”hiện đại” theo và sự ảnh hưởng văn hóa phương Tây rất rõ nét. Giờ đây người dân ít hào hứng với việc mua thực phẩm về tự chế biến mà đặt mua đồ đã chế biến sẵn cho tiện. Mâm cỗ ngày Tết giờ cũng phong phú hơn và đa dạng hơn. Bên cạnh những món ăn truyền thống của người Việt như bánh chưng xanh, giò, các món rau, món xào thì còn có những món ăn được du nhập từ Phương Tây.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"> </span><span style="color: #003300; font-size: 16px;">Trải qua bao biến thiên của thời đại, đến nay, quan niệm về Tết đã có nhiều thay đổi cả về mặt khái niệm lẫn hành vi. Bây giờ người ta quan niệm là “nghỉ Tết”, “chơi Tết” chứ không còn là “ăn Tết”. Khi cái ăn, cái mặc không còn là vấn đề quan trọng trong ngày Tết thì người ta hướng đến tinh thần nhiều hơn. Tết hiện đại mọi người thích nghỉ ngơi thoải mái, đi chơi nhiều hơn, nhân dịp Tết nhiều gia đình đã lên lịch trình cho một chuyến du lịch với người thân trong nhà hoặc cùng bạn bè, đồng nghiệp.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"> </span><span style="color: #003300; font-size: 16px;">Quà Tết bây giờ cũng khác. Trước đây, mọi người có thể chúc Tết nhau bằng cặp bánh, cân giò, với tấm lòng trân trọng mến thương. Bây giờ người ta có thể tặng nhau những món quà có giá trị cao nhưng tình cảm trong đó hầu như không có mà xen vào đó là lợi ích cá nhân, lợi ích kinh tế.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"> </span><span style="color: #003300; font-size: 16px;">Quả thật, quá trình tiếp xúc văn hoá Đông – Tây đã làm cho Tết thay đổi, những đồ ăn nhanh, làm sẵn đã làm mất đi không khí chuẩn bị vui tươi của ngày tết. Trẻ con không còn ngồi xem bố mẹ, ông bà gói bánh chưng và mong chờ còn ít gạo vét để gói chiếc bánh ống với nhiều đậu và một miếng thịt to, không còn vui thú khi vùi củ khoai nướng trong lúc trông nồi bánh chưng, các cô thiếu nữ đã dần quên thói quen đi ngắm hoa đào, hoa mai trên phố chợ. Những điều thay đổi đó khiến nhiều người không khỏi chạnh lòng “bao giờ cho đến Tết xưa”.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"> </span><span style="color: #003300; font-size: 16px;">Tuy nhiên, tiếp xúc với văn hóa phương Tây đã làm cho ngày Tết của người Việt có nhiều thứ mới lạ hơn, thực phẩm vừa ngon vừa phong phú đa dạng, những đồ ăn sẵn thật là thuận tiện, mâm cỗ cúng gia tiên có thêm chai rượu vang thì thật là sang trọng. Ngày Tết được đi du lịch với cả gia đình, bạn bè, đồng nghiệp khiến mọi người cảm thấy nhẹ nhõm, gạt bỏ được những căng thẳng trong một năm làm việc vất vả, tìm được sự bình yên, thư thái trong tâm hồn.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"> </span><span style="color: #003300; font-size: 16px;">Chúng ta không thể phủ nhận mặt tích cực của hội nhập văn hoá đem lại. Nếu chúng ta “khép” cửa “ăn Tết” với nhau thì Tết Việt đương nhiên chỉ là một sản phẩm của văn hoá thuần tuý đơn lẻ, nó sẽ không thể trở thành sản phẩm văn hoá đặc trưng của quốc gia trong mối quan tâm của bạn bè quốc tế. Sự mở cửa giao lưu, tiếp xúc lại chính là những phương thức tốt nhất giúp chúng ta giới thiệu đến bạn bè quốc tế về Tết cổ truyền của người ViệtNam. Vấn đề ở đây là chúng ta phải làm chủ được quá trình tiếp xúc với văn hóa phương Tây để tết cổ truyền của người Việt vẫn giữ được bản sắc riêng của mình mà không bị “ Tây hoá”.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"> </span><span style="color: #003300; font-size: 16px;">Có thể nói, Tết Nguyên Đán vẫn là một sinh hoạt văn hoá vừa lưu giữ những giá trị truyền thống vừa thích nghi với nhịp sống hiện đại. Trong ngày Tết vẫn còn nhiều phong tục tốt đẹp và đậm tính nhân văn mà chúng ta cần giữ gìn và phát huy để Tết Nguyên Đán mãi là nét văn hoá đặc sắc của dân tộc Việt Nam.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"><strong>Th.S Hoàng Thị Tố Nga</strong> - Khoa SP Tiểu học &#8211; Mầm non</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;">TÀI LIỆU THAM KHẢO</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"> </span><span style="color: #003300; font-size: 16px;">1. Đào Duy Anh. ViệtNamvăn hóa sử cương, NXB Tp. Hồ Chí Minh, 1992.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;">2. Đinh Gia Khánh. Văn hóa dân gian ViệtNamtrong bối cảnh văn hóa Đông Nam Á, NXB KHXH, 1993.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;">3. Phan Kế Bính. ViệtNamphong tục, NXB Tp. Hồ Chí Minh, 1992.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;">4.Trần Ngọc Thêm. Cơ sở văn hóa ViệtNam, NXB GD</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;">5. Trần Ngọc Thêm. Tìm về bản sắc văn hóa ViệtNam: Cái nhìn hệ thống &#8211; loại hình, NXB Tp. Hồ Chí Minh, 1996.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;">6. Trương Thìn (biên soạn). 101 điều cần biết về tín ngưỡng và phong tục ViệtNam,  NXB Thời đại, 2010.</span></p>
<p><strong> </strong><a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2016/01/tet-ng.dan_.jpg"><br />
</a></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://thanhlongcotu.com/?feed=rss2&#038;p=1079</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>VĂN HỌC</title>
		<link>https://thanhlongcotu.com/?p=774</link>
		<comments>https://thanhlongcotu.com/?p=774#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 16 Jul 2014 03:39:17 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Thanh Long Cổ Tự</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tài liệu]]></category>
		<category><![CDATA[Văn Học]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thanhlongcotu.net/?p=774</guid>
		<description><![CDATA[&#160; Lược Khảo về Sự Tích và Ý Nghĩa Lễ Vu Lan Nguyễn Phúc Bửu Tập   Mỗi năm, sau lễ Phật đản, người Việt Nam thiết lễ Rằm Tháng Bảy rất lớn, còn gọi là lễ Xá tội vong nhân theo câu ca dao &#8220;Tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân.&#8221; Phật giáo [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&nbsp;</p>
<h2 align="center"><span style="font-size: 16px; color: #993300;">Lược Khảo về Sự Tích và Ý Nghĩa Lễ Vu Lan</span></h2>
<h3 align="center"><span style="font-size: 16px;"><em>Nguyễn Phúc Bửu Tập</em></span></h3>
<div align="center">
<hr align="center" size="2" width="25%" />
</div>
<p><span style="font-size: 16px;"> <a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2014/07/d.hoa_.jpg"><img class="alignleft size-full wp-image-778" title="d.hoa" src="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2014/07/d.hoa_.jpg" alt="" width="276" height="183" /></a><a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2014/07/dangle.jpg"><br />
</a></span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Mỗi năm, sau lễ Phật đản, người Việt Nam thiết lễ Rằm Tháng Bảy rất lớn, còn gọi là lễ Xá tội vong nhân theo câu ca dao &#8220;Tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân.&#8221; Phật giáo Bắc Tông (Ðại Thừa) thiết lễ Vu Lan; lễ này không thấy trong tập tục Nam Tông. Bài này tìm hiểu sự tích lễ Vu Lan, khởi thủy tại Ấn Ðộ. Lễ Vu Lan theo đạo Phật vào Trung Hoa, đã trở thành một ngày hội lớn từ thành thị đến thôn quê. Tại Ðại Hàn, Ðài Loan và ViệtNam, cho đến bây giờ hàng năm dân chúng không quên ngày Rằm Tháng Bảy. Riêng tại Nhật Bản là nơi các tập tục Phật giáo, cho tới cuối thế kỷ Hai mươi vẫn còn giữ nguyên vẹn truyền thống, lễ Vu Lan được tổ chức rất trọng thể. Kéo dài bốn ngày, bắt đầu ngày mười ba, mãn ngày mười sáu tháng Bảy. Chúng ta sẽ khảo sát các chi tiết của ngày lễ Phật đẹp đẽ này. Chúng ta cũng sẽ tìm cách giải thích nguyên do của buổi lễ tôn giáo đại chúng này trong phần sau bài.</span><br />
<a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2014/07/dangle.jpg"><img title="dangle" src="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2014/07/dangle.jpg" alt="" width="288" height="169" /></a></p>
<h3><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Lễ Bon Vu Lan tại Ấn Ðộ.</span></h3>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Vì sao có lễ Bon Vu Lan? Trước khi Thích Ca khai sáng ra đạo Phật, người Ấn đã thiết lễ Bon, mà người Phật Bắc tông Ðông Á và Ðông Nam Á gọi là lễ Vu Lan. Ðạo Bà La Môn ở Ấn Ðộ tin rằng người chết có nhiều ràng buộc với người đang sống, và bổn phận người sống là phải thờ cúng người đã khuất núi. Vì lẽ đó mà đạo dạy là những kẻ vô thừa tự không sinh con cái nối dõi để tiếp tục thờ cúng tổ tiên, sẽ bị phạt tội rất nặng, bị đày xuống địa ngục. Ngày trước, ở Ấn Ðộ, người Bà La Môn đến tuổi trưởng thành phải đi tu học các nghi lễ cúng tế để phục vụ cộng đồng. Nhưng qua thời kỳ thụ huấn, y phải trở lại gia đình, lấy vợ, sinh con nối dõi. Y phải có con thừa tự, để đến lúc chết khỏi bị đọa đày ở địa ngục.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Lúc Thích Ca dựng lên đạo Phật, tông đồ của ngài đã từng sống trong niềm tin Bà La Môn. Những người từ bỏ gia đình để đi tu theo tăng đoàn phải có một cách để tự thuyết phục đi tu theo đạo Thích Ca không phạm tội vô thừa tự, vì tổ tiên sẽ được cứu rỗi bằng lễ Vu Lan.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;"><strong>Ðịnh nghĩa từ Vu-lan:</strong> Cho đến bây giờ các học giả đạo Phật đều thỏa thuận là chữ &#8220;vu-lan-bồn,&#8221; phiên âm từ chữ &#8220;ura-bon-e,&#8221; xuất xứ từ tiếng Phạn Sanskrit &#8220;ullambana,&#8221; một hình thức đọc gọn chữ &#8220;avalambana,&#8221; có nghĩa là treo ngược. Tiếng Trung Hoa dịch nghiã là &#8220;đảo huyền,&#8221; treo ngược chân lên trời, đầu xuống đất, là một hình phạt vô cùng tàn khốc áp dụng cho các tội đồ. Người Trung Hoa phiên âm từ &#8220;ura-bon-e&#8221; thành từ &#8220;vu-lan-bồn,&#8221; nói tắt là &#8220;vu-lan.&#8221; Lễ Vu Lan trở thành một chức năng của tập tục thờ cúng tổ tiên, rất quan trọng trong nền văn minh của Trung Hoa và các nước lân cận chịu ảnh hưởng văn minh Trung Hoa.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Học giả người Nhật Bunyu Matsuda sưu khảo trong đại tập Huyền Anh Diễn Nghĩa là một bộ kinh Phật gồm 25 tập, 449 quyển của đại sư Huyền Anh sống dưới đời Tùy, phiên âm và diễn dịch tất cả từ ngữ trong kinh điển nhà Phật từ tiếng Ấn Ðộ sang tiếng Trung Hoa. Trong tập số 13, chữ vu lan bồn được phiên âm và giải thích cặn kẽ. Ðại sư Huyền Anh viết: <em>từ ura-bon mà ta dịch là vu lan bồn là một hình thức phiên âm sai lạc; phải viết đúng là ullambana mới có nghĩa là &#8220;đảo huyền.&#8221; </em></span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Lại nữa, vào đời Thịnh Ðường, ở phủ Khai Phong, đại sư Tông Mật lại đưa ra một nhận định khác, khi ông viết phần Luận của cuốn Vu Lan Bồn Kinh. Ông viết: <em>ullam không hẳn là tiếng Phạn, từ này gốc ở Trung bộ Á châu, nơi đạo Phật theo con đường Lụa hoằng dương vào Trung Hoa</em>. Chữ ullam có thể hiểu và dịch là đảo huyền, nhưng chữ bana phiên dịch ra Hán ngữ là bồn, phải hiểu là một con thuyền hay một tấm ván, tấm bè làm khay, một cái chậu đựng thức ăn. Vậy toàn bộ chữ ullambana dịch sang Hán ngữ, phải được hiểu là &#8220;cứu giúp một con thuyền bị lật ngược, hay là quay lại cho ngay một tấm bè hay một cái khay, một cái chậu, bị lật ngược.&#8221; Ðại sư Tông Mật giải thích là ngay trong bản kinh Ullamba Sutra (Vu-lan-bồn Kinh) cũng có đoạn nói đến cái khay. Ðức Phật dạy muốn báo hiếu chuộc tội cho cha mẹ, phải thành tâm &#8220;dâng đầy khay thức uống và hương hoa phẩm vật&#8221; cho các bậc tôn trưởng cầu xin họ giúp lời cầu nguyện.</span></p>
<p><a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2014/07/mkl1.jpg"><img class="alignleft size-full wp-image-779" title="mkl" src="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2014/07/mkl1.jpg" alt="" width="193" height="261" /></a></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Ý kiến phân giải của đại sư Tông Mật được đại sư Ðạo Thế là người trước tác bộ Pháp Uyển Châu Lâm yểm trợ. Tác phẩm này dày 100 cuốn, là một công trình hệ thống hóa hai mục Kinh và Luận trong Tam tạng kinh điển nhà Phật. Trong phần trích dịch Kinh Ullambana Sutra cũng có đoạn nói tới lời đức Phật dạy phải dâng &#8220;đầy khay&#8221; hương hoa quả phẩm cho tăng chúng để xin giúp lời cầu nguyện cho tổ tiên được siêu thoát.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Học giả Bunyu Matsuda còn dẫn thêm là tài liệu trong bốn cuốn kinh khác, &#8220;Vu-lan-bồn Kinh sớ, Vu-lan-bồn Kinh sớ hiếu hành châm, Thích Thị yếu lãm và Fan-i-ming i-chi (?)&#8221;, để yểm trợ lời giải thích của Tông Mật. Công trình nghiên cứu bác học của thế hệ mới, đặc biệt là trường Nhật bản sung túc phương tiện trí óc và nhu cụ làm cho ta phấn khởi về tương lai của một nền Phật học hàn lâm. Tuy nhiên nếu đọc thật kỹ tài liệu trình bày hai ý kiến của hai vị đại sư Huyền Anh và Tông Mật cùng giải thích từ ngữ &#8220;vu lan bồn,&#8221; ta có thể kết luận không sợ sai lạc nhiều là hai ý kiến có vẻ không tương phản, mà còn hỗ trợ nhau. Người học Phật bước đầu nghiêng về phía giản tiện, hãy dùng chữ &#8220;Vu Lan&#8221; để gọi ngày lễ &#8220;Rằm Tháng Bảy.&#8221;</span></p>
<h3><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Lễ Vu Lan qua Kinh Phật Ullambana Sutra và một số kinh .</span></h3>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Mandgalyayana (viết theo Sanskrit; Moggallana, Pali; tiếng Hán phiên là Mục Kiện Liên, đọc tắt là Mục Liên, còn gọi là Ðại Mục Kiện Liên) là một nhân vật lịch sử, sống cùng thời với đức Phật. Ông ta là một vị giáo chủ có năm trăm đệ tử, xin quy y theo đức Phật, và được đức Phật xem là người đệ tử &#8220;thần thông bậc nhất.&#8221; Kinh chép khi đắc đạo, trở thành la-hán, ông phóng nhãn quan xuống địa ngục tìm mẹ, thấy mẹ bị đọa đày vì kiếp trước bà mẹ làm lắm điều bất thiện. Ông lấy bình bát của ông đựng đầy cơm dâng mẹ. Bà mẹ cầm lấy ăn, tức thời cơm hóa ra lửa hồng tuôn vào mồm bà mẹ. Ông đau đớn đến trình đức Phật, được dạy là bà mẹ của ông kiếp trước nặng dày nghiệp chướng, phải chờ đến ngày Rằm Tháng Bảy, thiết đại lễ thỉnh đức Phật và tăng giới mười phương đến góp lời cầu nguyện và phù trợ mới có thể giúp mẹ ông giải tội. Ông hỏi lại đức Phật là nếu trong đại chúng ai có lòng hiếu thảo muốn chuộc tội cho cha mẹ có thể thiết lễ xin giải tội cho cha mẹ như ông được chăng. Ðức Phật phán rõ: &#8220;Mỗi năm, vào ngày Rằm Tháng Bảy, người con Phật phải tưởng nhớ cha mẹ tổ tiên  tìm cách đền công ơn dưỡng dục  bằng cách thiết lễ, lập đàn cầu nguyện chư Phật và chư tăng ra ơn cứu độ,&#8221; thì cha mẹ tổ tiên được cơ hội xóa bỏ bớt tội lỗi từ muôn kiếp trước.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Ông Mandgalyayana làm đúng theo lời Phật dạy, và bà mẹ của ông được siêu thoát. Tăng đoàn và tín đồ Phật giáo noi theo gương ông và từ đó lễ Bon Vu Lan trở thành một lễ Phật.</span></p>
<p><a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2014/07/mklien1.jpg"><img class="alignleft size-full wp-image-781" title="mklien" src="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2014/07/mklien1.jpg" alt="" width="225" height="225" /></a></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Kinh điển nhà Phật, ngoài bộ kinh Ullambana Sutra, còn nhiều bộ kinh khác giải thích lễ Bon Vu Lan trong thời kỳ Phật giáo hưng thịnh tại Ấn Ðộ. Theo một số người học Phật, Kinh Mahapari nirvana Sutra, (Kinh Ðại Niết bàn), Quyển 16, kể chuyện đức Phật lúc đi truyền giáo có lần gặp một bộ lạc sống bằng cách giết người ăn thịt. Bộ lạc này được đức Phật cải quy và họ theo Phật quy y, nhưng họ không quen làm việc chăn nuôi, trồng trọt nên sống rất đói khổ. Ðức Phật răn dạy đệ tử trong vùng phải bố thí thực phẩm giúp đỡ họ. Lâu dần thành ra tập tục cúng lễ Bon Vu Lan.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Một cách giải thích khác lễ Bon Vu Lan là ông A Nan Ðà, người cháu và người đệ tử trung kiên nhất của đức Phật. Ông A Nan Ðà thường tiếp xúc với một ngạ qủy đói khát, bị phạt nuốt than lửa trong miệng, nên mỗi khi xin được thực phẩm trong bình bát, ông đem thực phẩm chia cho quỷ đói. Người đời sau bắt chước phép hành thiện của ông A Nan Ðà mà có lễ Bon Vu Lan.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Một nguyên nhân khác nữa giải thích lễ Bon Vu Lan tại Ấn Ðộ lấy dẫn chứng trong bổn Luật kinh Vinaya của trường Sarvastivada (Nhất thiết hữu bộ). Kinh ghi rõ lời dạy của đức Phật cho tì kheo đương thời là mỗi khi đi xin thực phẩm trở về chùa phải để dành một bát đầy thực phẩm cúng cho loại vong hồn Hariti. Hariti là một con quỷ cái chuyên giết người hút máu, bị kẻ thù rượt chém nên đánh lạc đứa con trai. Ðức Phật cứu đứa bé, dấu vào áo và đem trả cho người mẹ. Harati cảm kích, lại được Phật cảm hóa, bèn xin quy y, xin bỏ lệ giết hại người và xin chịu đói khát để đền tội. Phật dạy phải lấy lòng từ bi cấp dưỡng, và do đó có lệ Bon Vu Lan.</span></p>
<h3><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Lễ Vu Lan tại Trung Hoa</span></h3>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Phật giáo Ðại thừa ở Trung Hoa bắt đầu thiết lễ Vu Lan dưới thời Nam Bắc triều vào thế kỷ thứ Sáu. Tài liệu cũ nhất tìm thấy trong Phật Tổ thống chí ghi là lễ được thiết vào ngày Rằm Tháng Bảy năm 538 TL. Vua Vũ đế nhà Lương đến lễ Phật tại Ðông Ðài Tự và dâng lễ Vu Lan. Nhưng lễ Vu Lan ngày đó chỉ dành cho vua chúa và qúy tộc thiết lễ trong các ngôi chùa lớn, chưa phải là một dịp hội hè của dân gian. Phải chờ đến hai trăm năm sau, dưới triều Ðường Thái Tôn mới thấy trong Thích Thị ký cổ lược ghi rõ ngày lễ Vu Lan, tháng Bảy năm 766 TL, được thiết trong triều có lễ rước Kiệu Phật vào cung đình, và sau đó đem trưng bày Xá lợi tại Quảng An Môn cho dân chúng chiêm ngưỡng. Từ ngày đó lễ Vu Lan mới thành ra một ngày lễ cho đại chúng tham gia. Ðồng thời, ý nghiã của ngày Vu Lan cũng thay đổi như ta sẽ thấy ở sau.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Khoảng giữa thế kỷ thứ Tám, vào đời Ðường, có một vị pháp sư Ấn Ðộ tên là Amoghavajra, tinh thông giáo lý nhà Phật, muốn đạo Phật tập quán nhiều hơn vào truyền thống xã hội Trung Hoa tôn trọng việc thờ cúng tổ tiên, nên thay đổi ý nghĩa của ngày Vu Lan, làm thành ngày lễ hướng về tất cả vong hồn những người đã chết vì loạn lạc, chiến tranh, chết không có con cái thờ tự, chết vì nghèo đói; danh từ Phật gọi chung là ngạ quỷ. Cũng vào thời kỳ này gọi là Thịnh Ðường, đạo Phật trở nên cực kỳ hưng thịnh, cho nên cách thiết lễ Vu Lan cũng đổi thay. Ðến rằm tháng Bảy, trong mọi gia cư và tại chùa, dân gian xây đàn, làm chay để cúng vong hồn; đồng thời ngoài cộng đồng, nơi các chùa lớn lại có tục lệ tổ chức chưng bày các bảo vật thờ tự đức Phật, như là di tích của đức Phật (ví dụ, Xá lợi là di vật nhục thân của đức Phật đựng trong bình đá, bình ngọc) đem từ Ấn Ðộ sang, hoặc là các bổn kinh chép bằng chữ Sanskrist hay Pali, khắc trên đá, đẽo trên gỗ, chép trên lá cót, lá gồi&#8230;) cho dân chúng được phép chiêm ngưỡng. Ðồng thời nhà chùa lại khuyến khích các gia đình giàu có tham gia cuộc triển lãm bằng cách chưng bày các của riêng trân châu dị bảo cho khách thập phương từ xa đến thưởng ngoạn. Khách đi xem trong tỉnh, ngoài tỉnh đến dựng lều ở trên đất chùa, và tổ chức các buổi ca vũ, hát tuồng, thi đua tranh tài võ nghệ, thi đua khoe tài nấu nướng các món chay làm lễ cúng Phật và thết đãi người đồng đạo. Từ đó mà có ý nghĩa thiêng liêng &#8220;Ðại hội Vu Lan,&#8221; xá tội cho những linh hồn chết bị nghiệp đày đọa và cởi mở cho những linh hồn sống vui tươi, hành thiện.</span></p>
<p><a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2014/07/dang-cung.jpg"><img class="alignleft size-full wp-image-782" title="dang cung" src="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2014/07/dang-cung.jpg" alt="" width="275" height="183" /></a></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Ðại sư Amoghavajra hiểu rõ là đạo Phật từ Ấn Ðộ vào Trung Hoa phải vượt qua cái điều chướng ngại căn bản là truyền thống luân lý Trung Hoa từ lúc mới khai sáng, dựa trên nền tảng hiếu đạo: Nguyên thủy, đạo Phật dạy xuất thế, từ chối gia đình để hướng tới giải thoát nghiệp. Từ chối vợ con tức là chối bỏ cái sứ mệnh nối dõi giòng họ để cúng giỗ; từ chối gia đình tức là bỏ cha mẹ không nuôi dưỡng. Người Trung Hoa khó lòng mà chấp nhận giáo lý nhà Phật chủ trương như vậy.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Ðể giải quyết chướng ngại đó, đạo Phật phải tập quán vào xã hội vĩ đại của Trung Hoa bằng ba phương cách. Thứ nhất là dịch thuật và diễn giải các bộ kinh Phật liên hệ đến chữ hiếu, đã có sẵn rất nhiều trong kinh điển Sanskrist và Pali vừa mới du nhập vào nước Tàu, để chứng minh là giáo lý Phật cũng nặng chữ hiếu không kém truyền thống Trung Hoa. Phương cách thứ hai là thiết lập một số kinh điển mới do các đại sư Ấn Ðộ và Trung Hoa rút ý trong kinh điển nhà Phật viết ra, chú trọng vào hiếu để. Phương cách thứ ba còn siêu việt hơn nữa. Chữ hiếu cổ truyền của người Trung Hoa chỉ giới hạn trong phạm vi gia đình: cha mẹ ông bà. Chữ hiếu của nhà Phật bao gồm người sống và người chết: những người đã chết trong bao nhiêu đời trước (tổ tiên), rộng hơn nữa là những người đã chết cô quả không người cúng tế, và chính ngay những người đang sống vì trả nợ kiếp trước. Chữ hiếu theo quan niệm nhà Phật bỏ cái quan niệm cá nhân và gia đình để bao trùm hoàn vũ, lại còn đi vào chiều sâu thời gian. Ý niệm hiếu để của đạo Phật vượt lên bậc siêu đẳng, đáp ứng với nhu cầu hướng thiện và hướng linh của con người.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Ta thử lược qua kinh điển để dẫn chứng cụ thể những điều nói trên. Ðời Hậu Hán, An Thế Cao (An Shih-Kao) dịch trước tiên hai bộ kinh liên hệ đến chữ hiếu: Kinh Thi-Ca-Việt Lục Phương Lễ, và kinh Phụ Mẫu Ân Nan Báo. Tiếp theo đời Ngũ đại, đại sư Tân Pháp Tư dịch bộ kinh Phật Thuyết Thiện Sinh Tử. Hai bộ kinh căn bản của trường Phật giáo Nguyên thủy là Trường A Hàm và Trung A Hàm, được dịch ra Hán văn từ thế kỷ Bốn và Năm cũng nhắc lại lời dạy của đức Phật về chữ hiếu.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Thế nhưng muốn đề cập đến vấn đề hiếu để trong đạo Phật, ta phải đọc đến hai bộ kinh căn bản là bộ Kinh &#8220;Bồ Tát Thiện Tử&#8221; nói đến một người con có hiếu tên là Thiện Tử và bộ Kinh &#8220;Vu Lan Bồn&#8221; do đại sư Pháp Phong dịch dưới đời Tây Tấn, nói đến sự tích Mục Kiện Liên, một vị đại đệ tử của đức Phật.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Kinh Bồ Tát Thiện Tử do một nhà sư vô danh dịch ra Hán văn dưới đời Tây Tấn, được chùa Trung Hoa xem là bổn kinh, nhưng thật sự là trích ra trong Truyện Tiền Thân của đức Phật (Jataka). Thiện Tử (Sanskrit là Syama; Pali, Sama) là một vị bồ tát đã tình nguyện đầu thai làm con một cặp vợ chồng đui mù đã phát nguyện từ bỏ đời sống phù du nơi thành thị, đến ở một hang núi để tu tập. Ðứa con lớn lên rất có hiếu với cha mẹ và đem cha mẹ vào ở trong một hang núi để thực hiện điều nguyện ước. Một hôm Thiện Tử đội chiếc áo da nai xuống suối lấy nước. Nhà vua đi săn qua đó, tưởng lầm là thú, bắn mũi tên độc vào chàng trai. Thiện Tử nằm chờ chết, không oán hận nhà vua, cho là mình chết vì nghiệp, nhưng tiếc thương vì còn cha mẹ già không ai nuôi dưỡng. Ông và bà cụ già mò đến xác Thiện Tử. Người cha ôm đầu con truyền hơi thở, người mẹ đặt miệng vào vết thương cố hút chất độc ra. Trong cơn đau đớn họ nguyện cầu đức Phật cứu độ. Tức thì Phật Quán Thế Âm hiện ra, chữa lành vết thương cho Thiện Tử, và đồng thời cứu cha mẹ Thiện Tử khỏi mù loà. Cuốn kinh kết luận bằng lời dạy của đức Phật là hiếu để sẽ thắng mọi điều khổ ải. Câu chuyện này rất phổ thông trong dân gian Trung Hoa. Chuyện Thiện Tử còn được nhắc lại trong hai bổn kinh là &#8220;Lục Ðộ Thập Kinh&#8221; và &#8220;Pháp Uyển Châu Lâm.&#8221; Thầy Huyền Trang (Ðường Tam Tạng) cũng có thuật lại chuyện Thiện Tử trong sách &#8220;Ðại Ðường Tây Vực Ký&#8221;.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Sang đời Tống, chuyện Thiện Tử được hoàn toàn Trung Hoa hóa, trở thành một trong hai mươi bốn mô hình của Nhị Thập Tứ Hiếu và Thiện Tử được đổi tên là Yến Tử, chi tiết câu chuyện được đặt vào một cảnh vực Trung Hoa hơn.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Chuyện hiếu của Mục Liên tả trong kinh Vu Lan Bồn lại càng phổ thông hơn trong các nước Á Ðông theo Phật giáo Ðại Thừa. Kinh Vu-lan-bồn do đại sư Ấn độ Pháp Phong (Dharmaraksha, Ðàm-ma-la-sát, phiên âm chữ Nho) dịch vào cuối đời Tây Tấn. Bổn kinh này liên hệ trực tiếp với lễ Vu Lan, nội dung của bổn kinh lại còn trình bày rõ ràng hơn quan niệm của đạo Phật về chữ hiếu, ta đã nói ở đoạn trên.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Ý niệm xuất thế của đạo Phật, bỏ nhà đi tu, không trọn hiếu đạo với cha mẹ, được Kinh Vu Lan giải tỏa và người Trung Hoa cùng với các dân tộc khác ở Á Ðông đã nồng nhiệt chấp nhận phương cách giải thích như vậy. Ở Trung Hoa ngày đó, sự tích Mục Kiện Liên được phổ cập quanh năm trong nhân gian, không những trong chùa vào ngày lễ lạc, mà ở khắp mọi nơi, trong nhà thành câu hát ru em, ngoài chợ thành bài vè cho người hát xẩm, tạo nên một loại văn chương gọi là biền văn. Ðầu thế kỷ Hai mươi, khi khám phá ra các động thờ Phật tại Ðôn Hoàng (Tân Cương) ngừơi ta tìm được nhiều bổn biền văn này, như là &#8220;Mục Kiện Liên biền văn,&#8221; &#8220;Mục Kiện Liên Lục Khởi&#8221; và bộ &#8220;Ðại Mục Kiện Liên Minh Cứu Mẫu Kiến Văn tịnh độ.&#8221; Các tài liệu này đều được trước bạ trong sách &#8220;Ðôn hoàng trích yếu lục&#8221; của chánh phủ Trung Hoa Dân Quốc ấn hành tại Bắc Kinh năm 1931. Các bổn chánh đã bị người Âu châu chiếm đoạt, đem giữ tại Bibliothèque Nationale de Paris vàBritishMuseum.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Sự tích Mục Liên được kể rõ với đầy đủ chi tiết trong ba tài liệu nói trên, và từ ngày đó làm đề tài cho nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật tại Trung Hoa. Quan trọng hơn hết là một tác phẩm nghị luận (được kinh điển nhà Phật xếp vào bộ Luận) của đại sư Tông Mật. Nơi đây ta cần nói rõ hơn là ông xuất thân từ quý gia vọng tộc, từ nhỏ học đạo Khổng rất uyên thâm, và trở thành một bậc chân tu theo đạo Phật. Ông dựa trên Kinh Vu Lan để lập luận, so sánh chữ hiếu giữa đạo Khổng và đạo Phật. Theo ông, đạo Phật không khác đạo Khổng, đặt vấn đề hiếu đạo lên hàng đầu. Kinh Phật từ Ấn Ðộ sang &#8220;gồm có Kinh (là lời dạy của đức Phật) và Luật là giới hạnh của người tu Phật. Kinh đề ra nguyên tắc và trí huệ; Luật đề ra phép tắc để hành trì. Luật có cả hàng vạn điều, nhưng điều căn bản là hiếu đạo.&#8221; Ông dẫn chứng bổn kinh Phạm Võng (được xem là kinh Luật căn bản của Phật giáo Ðại thừa): &#8220;Khi đức Phật giác ngộ dưới cây Bồ đề, Ngài công bố luật Pratimoskha (tùy thuận giải thoát) cho người tu đạo bồ-tát, và luật này dựa trên nền tảng hiếu đạo.&#8221;</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Tông Mật cho rằng Nho giáo dạy chúng ta sống xứng đáng để thanh danh lại cho con cháu đời sau, nhưng chính Phật giáo lại dạy ta điều nhập thế là truyền bá lòng từ bi nhân ái cho thế hệ hiện tại đang sống chung quanh ta. Nho giáo dạy lễ nghi, chẳng hạn ngày giỗ ngày Tết phải sát sanh để làm giỗ tổ tiên; đạo Phật hiếu sinh hơn, dạy ta cầu nguyện nhưng không sinh sát. Tông Mật còn đi xa hơn, đề quyết là đức Phật ngày xưa bỏ ngôi đi tu chính là vì &#8220;muốn báo hiếu cho cha mẹ, không muốn cha mẹ kiếp kiếp bị trầm luân.&#8221;</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Lập luận dựa trên kinh Vu Lan để trình bày quan điểm của đạo Phật đối với chữ hiếu, như Tông Mật và các nhà học Phật thời bấy giờ chắc chắn đã tháo gỡ được rất nhiều các mối dè dặt của giới nho sĩ đối với đạo của Thích Ca. Do đó mà vào đời Thịnh Ðường, lúc đạo Phật thâu hút toàn bộ nhân dân Á Ðông và Trung Hoa, người ta đã thiết lễ Vu Lan như là một ngày hội chánh, đầy ý nghiã tôn giáo và xã hội.</span></p>
<p><a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2014/07/tr-tang.jpg"><img class="alignleft size-full wp-image-784" title="tr tang" src="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2014/07/tr-tang.jpg" alt="" width="276" height="182" /></a></p>
<h3><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Lễ Vu lan và lễ Trung nguyên.</span></h3>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Một điều thường gây thắc mắc cho người học Phật là sự trùng hợp giữa lễ Vu Lan và lễ Trung Nguyên. Xã hội nông nghiệp Trung Hoa buộc người nông dân lam lũ suốt năm trừ ra ba dịp nghỉ ngơi giải trí: đầu năm có lễ Thượng Nguyên, giữa năm có lễ Trung Nguyên, và cuối năm lễ Hạ Nguyên. Một số nhà nghiên cứu về văn minh Trung Quốc khẳng định nguồn gốc của ba buổi lễ trên xuất từ đạo Lão, hướng mọi hoạt động nhân sinh về thiên nhiên. Vào dịp đầu năm, người nông dân vui sống hội hè đình đám suốt tháng giêng. Vào cuối năm lại nô nức nghênh tiếp năm mới, người Tàu thiết lễ Hạ Nguyên vào rằm tháng Mười. Giữa tháng Bảy là thời kỳ nắng bức nhất trong năm, cũng là lúc nông dân gặt hái mùa màng vừa xong, nên có cơ hội tổ chức hội hè đình đám làm lễ Trung Nguyên. Khí trời nắng ấm, người Tàu đi từ làng này sang thôn khác thăm viếng họ hàng và bạn bè, biếu xén qùa cáp. Lễ Trung Nguyên thành ra một cơ hội thắt chặc đời sống gia tộc và cộng đồng.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Lúc đạo Phật vào Trung Hoa, sẵn có tính cách linh động tập quán, lại gặp môi trường thuận tiện là người Trung Hoa rất chuộng thực tế, ghép ba buổi lễ trên thành ra ba ngày lễ Phật: Thượng Nguyên, Trung Nguyên và Hạ Nguyên. Lễ Vu Lan thành ra trùng hợp với lễ Trung Nguyên. Nhà chùa ngày đó rất giàu có, cung cấp cảnh trí cho sinh hoạt cộng đồng trong dịp Trung Nguyên, và vào ngày rằm thiết lễ Phật nơi chánh điện. Tập tục này từ Trung Hoa theo đạo Phật sang Nhật Bổn, ngày Trung Nguyên gọi là Chugen, lễ cúng cô hồn, ta sẽ nói ở sau.</span></p>
<h3><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Lễ Vu Lan có từ Ấn Ðộ hay xuất khởi tại Trung Hoa?</span></h3>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Ðọc kỹ những tài liệu ở trên về gốc tích lễ Vu Lan ở Ấn Ðộ và Trung Hoa do các học giả mới của trường Ấn Ðộ và trường Nhật Bổn trình bày, người học Phật như chúng ta không thể tự kiềm chế để đặt câu hỏi là lễ Vu Lan đã thật có tại Ấn Ðộ từ ngày xa xưa trước Thích Ca chăng, hay là lễ Vu Lan chỉ là một sản phẩm do nhu cầu hoằng dương đạo Phật lúc đạo Phật vào Trung Hoa. Vế thứ nhất của câu hỏi &#8220;trước Thích-ca có lễ Vu-lan không&#8221; có lẽ rất hợp lý, vì tại các quốc gia sống trong văn minh Ấn Ðộ và cùng thờ đạo Phật như Miến Ðiện, Thái Lan, Cam Bốt,Lào,NamDương&#8230; không thấy thiết lễ Vu Lan. Tuy nhiên điều thắc mắc này dễ giải đáp. Tập tục thờ cúng người khuất vãn đã có trong kinh Vệ Ðà, trước đức Phật cả nghìn năm, tất nhiên phải được tiếp tục trong thời Phật giáo ở Ấn Ðộ, và vẫn tồn tại cho đến ngày nay tại Ấn Ðộ.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Vế thứ hai của câu hỏi, ta thử đặt lại cho gọn và dễ hiểu: Kinh Ullambana Sutra do đức Phật thuyết, được dịch qua tiếng Hán, hay chỉ là sản phẩm của tín đồ đức Phật khi đi truyền giáo sang Trung Hoa?</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Nếu ta căn cứ trên bổn tài liệu về thư mục quan trọng nhất của kinh điển Phật giáo do đại sư Bunyo Nanjio soạn thảo Catalogue Chinese Translation of The Buddhist Tripitaka, Oxford 1883, Kinh Ullambana Sutra được ghi là đã chép qua văn tự dưới thời Phật giáo Nguyên thủy và sau được dịch qua Hán ngữ. Nhưng có ba điểm nghi vấn mà các học giả trường Ðại thừa Nhật Bổn nêu lên, đề nghị phải nghiên cứu lại. Thứ nhất là về niên lịch và xuất xứ của cuốn kinh và cá nhân của dịch giả. Kinh điển nhà Phật được tổng kê vào nhiều bổn tổng thư mục (catalogue), và cuốn kinh Ullambana Sutra được tìm thấy trong bổn tổng thư mục Xuất Tam tạng Ký tập, Quyển IV, ấn hành vào khoảng thời gian 445-518 TL. Không có tên dịch giả, chỉ ghi đơn sơ một giòng: &#8220;Không thấy danh tánh dịch giả.&#8221; Cuốn tổng thư mục tiếp theo Lịch đại tam bửu ký ghi cuốn kinh, lại có tên người dịch là đại sư Dharmaraksa (Ðàm-ma-la-sát, còn gọi là Pháp Phong), sống dưới đời Tây Tấn. Chỉ một tín hiệu là hai bổn tổng thư mục gần như đương thời mà một bổn có tên dịch giả, một bổn không, cũng đủ để cho đời sau nghi ngại.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Ðiểm nghi vấn thứ hai do chính cuốn kinh tạo nên. Từ ullambana được dịch là vu-lan-bồn. Ullam có nghiã là đảo huyền, treo ngược, phiên âm thành vu-lan, nhưng từ chữ bana qua chữ bồn (là chiếc thuyền, chiếc khay đựng thực phẩm) tuy có lời giải thích của đại sư Tông Mật và những điểm dẫn chứng, ta vẫn thấy khó thỏa mãn được điều đòi hỏi suy luận duy lý.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Ðiểm nghi vấn quan trọng hơn hết là nội dung bổn kinh. Ngoài bổn Vu Lan Bồn Kinh do Dharmaraksa dịch, ta còn tìm thấy trong đại tập Pháp Uyển Châu Lâm một bản dịch thứ hai với tựa đề Báo Ân Phụ Mẫu Kinh, không có tên dịch giả. Phần đầu của hai bổn dịch không thấy điểm nào khác nhau. Duy phần kết của bổn dịch thứ hai, Báo Ân Phụ Mẫu Kinh chấm dứt ở chỗ ông Mục Kiện Liên sau trai giới vào hạ ba tháng (từ rằm tháng Tư cho đến rằm tháng Bảy), dâng thực phẩm hương hoa cho tăng đoàn xin giúp lời cầu nguyện, và nhờ vậy bà mẹ được xóa tội đọa đày. Bổn dịch thứ nhất, Kinh Vu Lan bổn Kinh, dài hơn bổn thứ hai, có thêm đoạn ông Mục Kiện Liên cầu xin đức Phật cho tất cả cha mẹ tổ tiên của chúng sinh đang bị đọa đày, nếu có con cái hiếu thảo biết dâng lễ Vu Lan cầu xin chuộc tội, cũng sẽ được xóa tội. Ðức Phật đã phán quyết y theo lời xin.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Như vậy, các dữ kiện vừa trình bày trên dẫn đến kết luận là Kinh Vu Lan Bồn nhất định đã được đức Phật thuyết vào thời kỳ nguyên thủy. Vì nhu cầu hoằng pháp phải thích ứng vào bổn tính chuộng thiết thực của người Trung Hoa, phần phụ lục chi tiết ở đoạn sau đã được thay đổi khi phiên dịch tại Trung Hoa.</span></p>
<h3><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Lễ Vu Lan tại Nhật Bổn</span></h3>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Nước Nhật Bổn ngày nay đứng vào hàng đầu trong kỷ nguyên văn minh hậu kỹ nghệ, được sắp hạng tối ưu trong các lãnh vực tiền phong như điện toán, tín hiệu&#8230; Và cũng không có một dân tộc nào như người Nhật, đi mau và đi trước nhưng vẫn giữ tối đa nếp sống cổ truyền đã có từ mấy nghìn năm trước.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Lễ Vu-lan tại Nhật gọi là lễ Bon, viết tắt chữ urabon, còn viết là urambon. Trước Thế-chiến II, Vu-lan Bon là ngày lễ công lập, công sở và trường học đóng cửa, nhân công được nghỉ việc ăn lương. Hai ngày lễ quan trọng nhất trong năm là ngày Nguyên đán và ngày Vu Lan Bon. Tưởng cần nhắc lại là nước Nhật đang dùng dương lịch nhưng vài địa phương và trong các chùa vẫn giữ âm lịch. Tục lệ khuyến khích những người đi làm ăn xa gia đình trong dịp Nguyên đán và Vu Lan phải trở về nhà sum họp và dâng lễ cúng tổ tiên. Vì vậy mà vào hai dịp lễ lớn đó các phương tiện chuyên chở tư nhân hay công cộng đều tấp nập kèn kẹt từ cuối tháng Sáu cho đến giữa tháng Bảy.</span></p>
<p><a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2014/07/levula.jpg"><img class="alignleft size-full wp-image-783" title="levula" src="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2014/07/levula.jpg" alt="" width="275" height="183" /></a></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Cho đến ngày nay, trong các cộng đồng truyền thông đặc biệt ở vùng quê, dân chúng chuẩn bị lễ Vu Lan Bon từ ngày mồng một tháng Bảy. Trong mỗi gia cư người Nhật đều có một bàn thờ Phật gọi là Budsudan. Ðầu tháng Bảy, người ta đặt trước bàn thờ Phật một chiếc bàn vong Shoryodana, trên bàn vong đặt bài vị để đón tiếp hương linh người qúa vãn. Ngày mồng Bảy gọi là ngày Nanoka Bon, gia chủ hay người trưởng tộc đi mở cửa mả (tức là quét dọn, làm cỏ) và làm lễ tại ngôi mộ gia tiên, và từ ngôi mộ về đến nhà trải một giây vải trắng gọi là bommichi để chỉ lối cho người chết trở lại nhà. Trên lối đi nhiều nơi còn treo đèn lồng ở mỗi khúc rẽ cho vong hồn khỏi lạc, và mỗi gia cư tứ bề thắp đèn lồng treo quanh máng xối. Nhiều gia đình ý tứ hơn, đem cúng cả ngựa, cả xe kết bằng rơm, hoặc bằng giấy, bằng hoa quả để cho người chết dùng làm phương tiện trở lại nhà. Ngày 13 gọi là ngày &#8220;đón vong hồn&#8221; (Mukac Bon), ngoài mộ và trên bàn vong chưng đầy hoa đẹp gọi là Bonbana. Lúc xế chiều, đốt đèn ngoài cửa tiếp đón vong hồn. Lửa này giữ cho đến ngày 16, gọi là ngày &#8220;tiễn đưa vong hồn&#8221; (Okuri Bon). Tại một vài địa phương lại còn có tục lệ nhảy múa Vu Lan gọi là Bon odori, chào mừng tổ tiên trở lại nhà sum họp với con cháu mỗi năm một lần. Sau Thế chiến II, để phát triển kỹ nghệ du lịch, lệ nhảy múa Bon odori được tổ chức rất đẹp và trọng thể.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Như trên đã nói, người Trung Hoa theo tập tục Ấn Ðộ thiết lễ Vu Lan, biến đổi thành ra buổi lễ chuộc tội cho tổ tiên riêng mỗi gia đình. Về sau, ý niệm từ bi của đạo Phật phát triển mạnh, lễ Vu Lan hướng về người chết nói chung, không riêng trong gia đình.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Người Nhật đem lễ Vu Lan vào nước Nhật dưới thời nữ hoàng Suiko và phát huy rõ hơn cái ý niệm từ bi hiếu sinh của đạo Phật. Chồng của nữ hoàng Suiko là Thánh Ðức Thái Tử trị vì từ năm 574 tới năm 622 TL. Ông là người phát huy đạo Phật lớn mạnh tại Nhật, đưa Phật giáo lên làm quốc giáo. Năm 606, nữ hoàng chỉ dụ cho tất cả chùa chiền trong nước thiết lễ Vu Lan, và tiếp tục mỗi năm. Người Nhật cũng theo đạo Phật Trung Hoa thiết lễ Trung Nguyên, gọi là Chugen, nhưng biến đổi có quy tắc hơn. Tại Nhật, lễ Vu Lan Bon được phân biệt hai phần: lễ cúng tổ tiên trong gia đình, và lễ cúng cô hồn. Lễ cúng cô hồn có tên là Segaki-e, có nghiã là dâng thực phẩm cho linh hồn bị phiêu bạt đói khát, là một ngày lễ Phật riêng biệt, thường không có ngày nhất định, nhưng về sau thiết vào dịp Vu Lan, lấy một ngày trong bốn ngày urabon làm lễ.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Giữa thế kỷ Mười chín, Thiên hoàng Minh Trị canh tân nước Nhật. Công cuộc duy tân và kỹ nghệ hóa buộc phải giản dị hóa các hội hè đình đám, nên lễ urabon và sagaki-e ngày nay biến thành lễ chung.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Nước Nhật phú cường hiện tại có khuynh hướng trở lại đời sống tinh thần và tôn giáo. Ta hãy nghe giáo sư Kenneth Chen, viện Ðại học Princeton, nói về lễ Vu Lan tại Nhật ngày nay (&#8220;Buddhism, The Light of Asia,&#8221; Barron, New York 1978, người viết phỏng dịch trang 263). &#8220;Trong mỗi gia đình, dân chúng chưng dọn bàn thờ, dâng cúng hoa quả và thức ăn đặc biệt cho vong hồn. Chiếu trải ra giữa sân, đặt các món ăn như mì sợi, chè kê, canh bí ngô, canh dưa gang, cá hấp. Ðúng ngày mười ba, lại cúng một món chè trôi nước đặc biệt để tiếp đón khách vong hồn mới về. Ngày hôm sau mười bốn, cúng chè khoai và cà hấp trộn mè. Ngày mười lăm hay mười sáu cúng tiễn, có cơm đùm lá sen, và chè bọc nhân đậu. Mỗi ngày, hương đèn trên bàn thờ không để lụi, luôn luôn châm thêm hương hoa trà nước. Vào ngày mười ba, khi bắt đầu lễ, người trong nhà đi viếng và thắp đèn trên mộ, đồng thời thắp đèn ở cổng nhà, hàm ý dẫn đường cho vong hồn biết lối trở lại nhà hưởng cúng phẩm. Ngày mười lăm cúng tiễn, cũng thắp đèn gọi là đèn tạm biệt tiễn đưa vong hồn. Tại các làng xóm gần sông lạch và hồ biển, thường có người chết vì sông nước, lại có lệ sắm các thuyền bé tí hon, đặt cúng phẩm lên trên và thắp đèn đem thả xuống giòng nước. Cái hình ảnh đèn thắp trên cổng nhà, tiếp với ánh sáng le lói trên con thuyền tí hon dưới sông trôi xa theo ngọn nước, tiêu biểu cho cái ý niệm gắn liền người sống thực tại với người đã ra đi vào cõi hư vô.&#8221;</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Bài sưu khảo nhỏ bé này chỉ hoàn tất khi bổ túc được việc tìm hiểu lễ Vu Lan tại ViệtNam. Nếu chúng ta thử đặt qua bên cái mặc cảm sô-vanh, chúng ta phải nhận thức là các tài liệu nghiên cứu xã hội và tôn giáo của quê hương ta rất nghèo nàn. Suốt một thế kỷ sống dưới sự đô hộ của người Pháp, tiếp theo là một cuộc chiến tranh triền miên, có mấy đủ phương tiện và thì giờ để tìm học cặn kẽ những sinh hoạt tôn giáo như vấn đề nhỏ nêu ra ở đây là lễ Vu Lan. Ở Hà Nội hiện nay có một viện Nghiên cứu Khoa học Xã hội (chắc phải có phần cho tôn giáo), ở ngoài nước các phương tiện chất xám và vật chất càng đầy đủ hơn, ta hy vọng trong tương lai sẽ được đọc và học một tác phẩm khảo cứu tường tận về lễ Vu Lan ViệtNam.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 16px; color: #000080;"><em><strong>Nguyễn Phúc Bửu Tập</strong></em></span></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://thanhlongcotu.com/?feed=rss2&#038;p=774</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>NĂM NGỌ nói chuyện NGỰA</title>
		<link>https://thanhlongcotu.com/?p=634</link>
		<comments>https://thanhlongcotu.com/?p=634#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 29 Jan 2014 03:58:12 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Thanh Long Cổ Tự</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tài liệu]]></category>
		<category><![CDATA[Văn Học]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thanhlongcotu.net/?p=634</guid>
		<description><![CDATA[Hình tượng con ngựa hiện diện từ sớm trong văn hóa Đông-Tây, con ngựa là một trong những loài vật được con người thuần hóa và sử dụng trong đời sống hàng ngày và loài vật gắn liền với chiến tranh. Hình ảnh con ngựa còn là chủ đề cho các môn nghệ thuật như [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong><a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2014/01/nguatrongtamthucconnguoi.jpg"><img class="alignleft size-medium wp-image-635" title="nguatrongtamthucconnguoi" src="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2014/01/nguatrongtamthucconnguoi-300x224.jpg" alt="" width="300" height="224" /></a><span style="color: #800080; font-size: 14px;">Hình tượng con <a title="Ngựa" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%E1%BB%B1a"><span style="color: #800080;">ngựa</span></a></span></strong><span style="color: #800080; font-size: 14px;"> hiện diện từ sớm trong <a title="Văn hóa" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/V%C4%83n_h%C3%B3a"><span style="color: #800080;">văn hóa</span></a> Đông-Tây, con ngựa là một trong những loài vật được con người <a title="Thuần hóa" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Thu%E1%BA%A7n_h%C3%B3a"><span style="color: #800080;">thuần hóa</span></a> và sử dụng trong <a title="Đời sống (trang chưa được viết)" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=%C4%90%E1%BB%9Di_s%E1%BB%91ng&amp;action=edit&amp;redlink=1"><span style="color: #800080;">đời sống</span></a> hàng ngày và loài vật <a title="Ngựa trong chiến tranh" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%E1%BB%B1a_trong_chi%E1%BA%BFn_tranh"><span style="color: #800080;">gắn liền với chiến tranh</span></a>. Hình ảnh con ngựa còn là chủ đề cho các môn nghệ thuật như <a title="Hội họa" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%99i_h%E1%BB%8Da"><span style="color: #800080;">hội họa</span></a>, <a title="Điêu khắc" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90i%C3%AAu_kh%E1%BA%AFc"><span style="color: #800080;">điêu khắc</span></a>, <a title="Thơ văn (trang chưa được viết)" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Th%C6%A1_v%C4%83n&amp;action=edit&amp;redlink=1"><span style="color: #800080;">thơ văn</span></a>&#8230; Đối với văn hóa phương Tây, ngựa gắn liền với nhiều biểu tượng thần thoại và gắn liền với hình ảnh <a title="Nhân Mã" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A2n_M%C3%A3"><span style="color: #800080;">Nhân Mã</span></a> trong <a title="Cung Hoàng Đạo" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Cung_Ho%C3%A0ng_%C4%90%E1%BA%A1o"><span style="color: #800080;">12 Cung Hoàng đạo</span></a>.</span></p>
<p><span style="color: #800080; font-size: 14px;">Ngựa là một trong <a title="12 con giáp" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/12_con_gi%C3%A1p"><span style="color: #800080;">12 con giáp</span></a> của văn hóa phương Đông (<a title="Ngọ" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%E1%BB%8D"><span style="color: #800080;">ngọ</span></a>), cũng nằm trong số <a title="Lục súc" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%A5c_s%C3%BAc"><span style="color: #800080;">lục súc</span></a> theo quan niệm của văn hóa một số nước. Ngựa là hình tượng đặc trưng cho phương Bắc, là biểu tượng cho sự trung thành và tận tụy đồng thời là biểu tượng cho tài lộc, thành công, hình ảnh con ngựa tung vó hý vang biểu tượng cho sự kiêu hãnh và tự do và thanh khiết.</span></p>
<p><span style="color: #800080; font-size: 14px;"><strong>Khái yếu</strong></span></p>
<p><span style="color: #800080; font-size: 14px;">Ngựa là con vật thông minh, khôn ngoan sống gần người và được con người yêu quý trong đời sống vất vả mà còn kề vai sát cánh cùng con gười xông pha nơi trận mạc. Ngựa đã đi vào văn học dân gian trong lịch sử và văn hoá nghệ thuật. Xuất phát từ chính đặc điểm tự nhiên của loài ngựa mà hình tượng con ngựa luôn hiện diện với vẻ đẹp trong cách nhìn của con người phản ánh qua lăng kính văn hóa. Ngựa có dáng vẻ đẹp đẽ, mạnh mẽ, sung mãn mà thanh nhã, hiền lành, ngựa đó đức tính trung thành với con người, nhiều con ngựa được coi là con vật có tình nghĩa.</span></p>
<p><span style="color: #800080; font-size: 14px;"><strong>Trong thần thoại</strong></span></p>
<p><span style="color: #800080; font-size: 14px;">Ở <a title="Triều Tiên" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%BB%81u_Ti%C3%AAn"><span style="color: #800080;">Triều Tiên</span></a> có ngựa Ngựa thần Chollima (Thiên Lý Mã) xuất hiện trong thần thoại châu Á: Giống như loài ngựa trắng có cánh <a title="Pegasus (trang chưa được viết)" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Pegasus&amp;action=edit&amp;redlink=1"><span style="color: #800080;">Pegasus</span></a> của thần thoại Hy Lạp, Chollima trong văn hóa dân gian châu Á cũng sở hữu đôi cánh sải rộng. Bốn con ngựa của Apocalypse trong Thần thoại Kitô giáo: Chúng là biểu tượng của sự chinh phục, chiến tranh, nạn đói và cái chết.</span></p>
<p><span style="color: #800080; font-size: 14px;">Trong thần thoại Hy Lạp cổ đại có con ngựa Pegasus , sau khi giúp đỡ người anh hùng Hy Lạp Bellerophon đánh bại Chimera, Zeus đã biến ngựa Pegasus thành một chòm sao và cho nó một vị trí trên bầu trời. Ngoài ra có điển tích <a title="Con ngựa thành Troia" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Con_ng%E1%BB%B1a_th%C3%A0nh_Troia"><span style="color: #800080;">Con ngựa thành Troia</span></a>. Truyền thuyết Hy Lạp cổ đại có nêu <a title="Mười hai kỳ công của Heracles" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/M%C6%B0%E1%BB%9Di_hai_k%E1%BB%B3_c%C3%B4ng_c%E1%BB%A7a_Heracles"><span style="color: #800080;">Mười hai kỳ công của Heracles</span></a> trong đó có hai kỳ công liên quan đến ngựa là thuần phục đàn ngựa cái của Diomedes: Bốn chú ngựa cái của Diomedes gồm: Podagros, Lampon, Xanthos và Deimos. Chúng có sở thích ăn thịt người. Heracles đã khiến 4 con ngựa ăn thịt chính chủ nhân của chúng rồi thuần phục chúng.</span></p>
<p><span style="color: #800080; font-size: 14px;">Heracles được chỉ thị phải mang về cho Erystheus đàn ngựa cái của <a title="Diomedes (trang chưa được viết)" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Diomedes&amp;action=edit&amp;redlink=1"><span style="color: #800080;">Diomedes</span></a> &#8211; vua trị vì xứ <a title="Thracia" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Thracia"><span style="color: #800080;">Thracia</span></a>. Những con ngựa ăn thịt các vị khách lữ hành khi họ phạm sai lầm không chịu đón nhận lòng hiếu khách của Diomedes. Thần thoại kể rằng Heracles đã dẹp yên đám ngựa hung bạo này khi cho chúng ăn thịt chính người chủ của chúng, ăn được nữa chừng thì chúng phát hiện đây là chủ của mình và đuổi theo Heracles. Heracles sớm gom chúng lại và lùa chúng lên tàu cho Tiryns. Sau khi đưa chúng về trình diện Eurystheus, Heracles thả chúng đi. Cuối cùng bầy ngựa cũng bị <a title="Con (trang chưa được viết)" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Con&amp;action=edit&amp;redlink=1"><span style="color: #800080;">con</span></a> gái của ác điểu Stymphalus ăn thịt trong 1 lần đi lạc.</span></p>
<p><span style="color: #800080; font-size: 14px;">Một kỳ công khác là dọn Chuồng ngựa của Augeas. Augeas có một bầy ngựa đông đến nỗi lượng <a title="Phân" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%A2n"><span style="color: #800080;">phân</span></a> chúng thải ra qua bao năm kết thành một lớp dày đặc bao phủ toàn bộ <a title="Peloponnesus" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Peloponnesus"><span style="color: #800080;">Peloponnesus</span></a>. Heracles đã rửa sạch các chuồng ngựa của vị vua Augeas chỉ trong một ngày. Thay cho việc dùng <a title="Xẻng" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/X%E1%BA%BBng"><span style="color: #800080;">xẻng</span></a> và miếng hốt phân như Eurystheus tưởng tượng, Heracles làm thay đổi dòng chảy của hai con <a title="Sông" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%B4ng"><span style="color: #800080;">sông</span></a> chảy qua <a title="Chuồng ngựa (trang chưa được viết)" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Chu%E1%BB%93ng_ng%E1%BB%B1a&amp;action=edit&amp;redlink=1"><span style="color: #800080;">chuồng ngựa</span></a>, và công việc được hoàn tất mà không làm bẩn tay chàng.</span></p>
<p><span style="color: #800080; font-size: 14px;">Thần thoại Hy Lạp còn có hình ảnh về <a title="Nhân mã" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A2n_m%C3%A3"><span style="color: #800080;">Nhân mã</span></a> là một sinh vật trong <a title="Thần thoại Hy Lạp" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%A7n_tho%E1%BA%A1i_Hy_L%E1%BA%A1p"><span style="color: #800080;">thần thoại Hy Lạp</span></a> có nửa thân trên của người và toàn bộ phần dưới của <a title="Ngựa" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%E1%BB%B1a"><span style="color: #800080;">ngựa</span></a>. Trong thần thoại Hy Lạp, nhân mã cùng tồn tại với con người, các anh hùng và các thần nhưng sống tại vùng núi của <a title="Thessalía" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Thessal%C3%ADa"><span style="color: #800080;">Thessalía</span></a>. Theo thần thoại Hy Lạp, một vị vua tên là <a title="Ixion (trang chưa được viết)" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ixion&amp;action=edit&amp;redlink=1"><span style="color: #800080;">Ixion</span></a> dám tán tỉnh <a title="Hera" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Hera"><span style="color: #800080;">Hera</span></a>, vợ thần <a title="Zeus" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Zeus"><span style="color: #800080;">Zeus</span></a>. Thần Zeus tức giận bèn lừa Ixion bằng cách tạo ra một cụm mây giống hình dạng Hera &#8211; đây là thần <a title="Nephele (trang chưa được viết)" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Nephele&amp;action=edit&amp;redlink=1"><span style="color: #800080;">Nephele</span></a>. Ixion lấy Nephele, sinh ra một quái vật tên là <a title="Centaurus (thần thoại) (trang chưa được viết)" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Centaurus_%28th%E1%BA%A7n_tho%E1%BA%A1i%29&amp;action=edit&amp;redlink=1"><span style="color: #800080;">Centaurus</span></a>. Centaurus cùng với những con ngựa trên vùng núi Thessalía sinh ra dòng giống nhân mã.</span></p>
<p><span style="color: #800080; font-size: 14px;">Trong thần thoại Bắc Âu còn có con vật Kelpie là quái vật tới từ các con sông và hồ ở Scotland. Nó thường được gọi là ngựa nước (hà mã) bởi hình dáng bên ngoài trong giống một con ngựa bạch. Nhờ vẻ ngoài đẹp rạng rỡ mà Kelpie đánh lừa rất nhiều người, một khi cưỡi lên, nó sẽ đưa nạn nhân tới chỗ nước sâu và ăn thịt. Một dị bản khác của Kelpie là quái vật Glashtyn trên đảo Nykur, Ireland. Ở <a title="Phi Luật Tân" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Phi_Lu%E1%BA%ADt_T%C3%A2n"><span style="color: #800080;">Phi Luật Tân</span></a> còn có truyền thuyết về quái vật Tikbalang, là ngựa quỷ trong tín ngưỡng dân gian. Con quỷ này có đầu và chân ngựa, cơ thể người và các chi rất dài. Chúng ẩn trốn trong rừng, đặc biệt rất hay cưỡng hiếp phụ nữ và để họ mang thai ngựa quỷ Tikbalang con.</span></p>
<p><span style="color: #800080; font-size: 14px;">Trong văn hóa Trung Quốc có hình tượng về <a title="Bạch Long Mã" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BA%A1ch_Long_M%C3%A3"><span style="color: #800080;">Bạch Long Mã</span></a> là một con ngựa trắng có nguồn gốc từ con rồng. <strong>Bạch Long Mã</strong> (<a title="Chữ Hán" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%AF_H%C3%A1n"><span style="color: #800080;">chữ Hán</span></a>: 白龍馬) hay <strong>Tiểu Bạch Long</strong> là con của <strong><a title="Tứ hải long vương" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%A9_h%E1%BA%A3i_long_v%C6%B0%C6%A1ng"><span style="color: #800080;">Tây Hải Long Vương</span></a></strong> (em <strong>Đông Hải Long Vương</strong>) là đồ đệ thứ tư của <a title="Huyền Trang" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Huy%E1%BB%81n_Trang"><span style="color: #800080;">Đường Tăng</span></a> đi thỉnh kinh ở <a title="Tây Thiên (trang chưa được viết)" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=T%C3%A2y_Thi%C3%AAn&amp;action=edit&amp;redlink=1"><span style="color: #800080;">Tây Thiên</span></a> trong <a title="Tiểu thuyết" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Ti%E1%BB%83u_thuy%E1%BA%BFt"><span style="color: #800080;">tiểu thuyết</span></a> <a title="Tây du ký" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2y_du_k%C3%BD"><span style="color: #800080;">Tây du ký</span></a> của <a title="Ngô Thừa Ân" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C3%B4_Th%E1%BB%ABa_%C3%82n"><span style="color: #800080;">Ngô Thừa Ân</span></a>. Do có lỗi lầm nên <a title="Quan Âm" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Quan_%C3%82m"><span style="color: #800080;">Quan Thế Âm Bồ Tát</span></a> đã cho phò giá Đường Tăng đễ chuộc lại những lỗi lầm đã gây ra. đã ăn thịt con ngựa mà Đường Tăng cưỡi nên đã bị Ngộ Không tìm đến đòi mạng. Võ công của ông và Ngộ Không là một trời một vực nên ông đã sớm thất bại và rút xuống nước. Sau đó, Quan Âm Bồ Tát đã gọi lên để Tiểu Bạng Long đi theo phò giá Đường Tăng. Khi phò giá Đường Tăng nó là một con ngựa và rất ít khi cùng các sư huynh tham gia chiến đấu với <a title="Yêu quái (trang chưa được viết)" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Y%C3%AAu_qu%C3%A1i&amp;action=edit&amp;redlink=1"><span style="color: #800080;">yêu quái</span></a>.</span></p>
<p><a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2014/01/index.jpg"><img class="alignleft size-full wp-image-639" title="index" src="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2014/01/index.jpg" alt="" width="275" height="183" /></a></p>
<p><span style="color: #800080; font-size: 14px;"><strong>Trong tín ngưỡng</strong></span></p>
<p><span style="color: #800080; font-size: 14px;">Trong quan niệm cổ xưa, ngựa là con vật có bản tính mau lẹ, hăng hái, sung mãn, được xếp dưới nguyên lý Dương của tự nhiên, và được coi là biểu trưng cho yếu tố hỏa. một số nơi người ta dùng biểu tượng ngựa để tượng trưng cho Mặt Trời, có nơi, ngựa là vật hiến tế trong tín ngưỡng thờ thần Mặt Trời. Sự mau lẹ của con ngựa cùng với sức mạnh và năng lực có thể đi được chặng đường rất xa của nó khiến cho người ta gán cho nó những tên gọi như Gío Tây, Chân Mau, Tia Chớp, Thiên Lý Mã, Phi Mã… Người Phương Tây quan niệm rằng ngựa có cánh xuất phát từ con ngựa có cánh của thần thoại Hy Lạp. Trên đồ gốm cổ Việt Nam cũng trang trí những hình ngựa có cánh. Những con ngựa này được diễn tả trong tư thế đang bay trong không trung. Như thế, con ngựa trong nghệ thuật gốm Việt Nam cũng hoá thân vào huyền thoại, và ít nhiều nó đã mang màu sắc tôn giáo như con ngựa trong văn hoá Ấn Độ hay văn hoá Trung Quốc.</span></p>
<p><span style="color: #800080; font-size: 14px;">Cư dân Hồi giáo ở Đông Nam Á cũng có tục thờ ngựa, họ coi ngựa là con vật linh thiêng. Ngựa là một trong những chòm sao của hoàng đạo phương Tây, nó được hình tượng hoá qua người bắn cung Sagittarius xuất hiện ở vòng cung thứ chín dưới dạng hình nhân mã, cũng tương tự như cung ngọ trong mười hai cung của phương Đông. Từ con vật đời thường, với bản tính tốt đẹp mà con người đã gán cho nó, thần thánh nó, huyền thoại nó do đó ngựa đã trở thành hình tượng nghệ thuật, trở thành con vật linh thiêng, hoá thân vào đời sống văn hoá tâm linh.</span></p>
<p><span style="color: #800080; font-size: 14px;">Một dáng hóa thân khác của kỳ lân là con long mã, bao giờ cũng được thể hiện chạy trên sóng nước (lấy từ tích Vua Vũ trị thủy). Người ta thường hiểu rằng: long là rồng, rồng thì bay lên, nghĩa là tung, tượng trưng cho kinh tuyến, thời gian &#8211; mã là ngựa, chạy ngang, là hoành, tượng trưng cho vĩ tuyến, không gian. Như vậy long mã tượng trưng cho sự tung hoành của nam nhi, cho thời gian và không gian, long mã chạy là biểu hiện cho vũ trụ vận động, đồng thời tượng trưng cho thánh nhân.</span></p>
<p><span style="color: #800080; font-size: 14px;">Về nhân tướng, theo quan niệm của Phương Đông thì những người sinh năm con ngựa thường có cá tính phóng khoáng, không căn cơ, có năng lực suy nghĩ độc lập và ít để bụng. Gặp việc gì họ cũng thường bắt tay làm ngay, không chần chừ do dự. Nhưng chính sự nhanh nhẹn đó lại cấu thành nên điểm yếu của họ: nóng vội và thiếu kiên nhẫn.</span></p>
<p><span style="color: #800080; font-size: 14px;"><strong>Trong nghệ thuật</strong></span></p>
<p><span style="color: #800080; font-size: 14px;">Ngựa có nhiều màu như <a title="Lông" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%B4ng"><span style="color: #800080;">lông</span></a> màu trắng gọi là <a title="Ngựa bạch" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%E1%BB%B1a_b%E1%BA%A1ch"><span style="color: #800080;">ngựa bạch</span></a>, đen tuyền gọi là <a title="Ngựa ô (trang chưa được viết)" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Ng%E1%BB%B1a_%C3%B4&amp;action=edit&amp;redlink=1"><span style="color: #800080;">ngựa ô</span></a>, đen pha đỏ tươi là ngựa vang, đen pha đỏ đậm là ngựa hồng, tím đỏ pha đen là ngựa tía, trắng sọc đen là <a title="Ngựa vằn" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%E1%BB%B1a_v%E1%BA%B1n"><span style="color: #800080;">ngựa vằn</span></a>, ngoài ra còn có <a title="Ngựa xám" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%E1%BB%B1a_x%C3%A1m"><span style="color: #800080;">ngựa xám</span></a>, ngựa đỏ (<a title="Xích Thố mã (trang chưa được viết)" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=X%C3%ADch_Th%E1%BB%91_m%C3%A3&amp;action=edit&amp;redlink=1"><span style="color: #800080;">Xích Thố mã</span></a>)&#8230; Về cách đi đứng của con ngựa có nhiều động từ để diễn tả như: đi, bước, rảo, chạy, nhảy, kiệu, phóng, vút, phi (bay), tế, sải, lao, vọt, phốc, phi nước đại, phi nước kiệu, phi rạp mình, ngựa lồng&#8230; do đó trong nghệ thuật, Rất nhiều nhà điêu khắc tài hoa, họa sĩ nổi tiếng đã tạc tượng, vẽ tranh ngựa trên sách báo, đền đài, lăng tẩm. Nhiều nơi đều có tượng danh nhân ngồi trên lưng ngựa đặt trang trọng ở các quảng trường, công viên.</span></p>
<p><span style="color: #800080; font-size: 14px;">Về tranh ngựa có họa sĩ Trung Quốc <a title="Từ Bi Hồng" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB%AB_Bi_H%E1%BB%93ng"><span style="color: #800080;">Từ Bi Hồng</span></a> chuyên vẽ tranh ngựa và cùng nhiều danh họa phương Tây khác sáng tác nhiều chủ đề về ngựa.</span></p>
<p><span style="color: #800080; font-size: 14px;"> <a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2014/01/images3.jpg"><img class="alignleft size-full wp-image-641" title="images" src="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2014/01/images3.jpg" alt="" width="277" height="182" /></a></span></p>
<p><span style="color: #800080; font-size: 14px;"><strong>Trong chiến tranh</strong></span></p>
<p><span style="color: #800080; font-size: 14px;">Ngựa gắn liền với chiến tranh, với hình ảnh của <a title="Kỵ binh" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/K%E1%BB%B5_binh"><span style="color: #800080;">kỵ binh</span></a>, các <a title="Kỵ sĩ (trang chưa được viết)" href="http://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=K%E1%BB%B5_s%C4%A9&amp;action=edit&amp;redlink=1"><span style="color: #800080;">kỵ sĩ</span></a>, <a title="Hiệp sĩ" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Hi%E1%BB%87p_s%C4%A9"><span style="color: #800080;">hiệp sĩ</span></a> Tây Phương và các <a title="Dũng sĩ" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/D%C5%A9ng_s%C4%A9"><span style="color: #800080;">dũng sĩ</span></a>, <a title="Chiến binh" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_binh"><span style="color: #800080;">chiến binh</span></a> của miền <a title="Thảo nguyên" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%A3o_nguy%C3%AAn"><span style="color: #800080;">thảo nguyên</span></a>, đại mạc. Rất nhiều đội kỵ binh đã vượt hàng vạn dặm đất đai mệnh mông, núi non hiểm trở, từ nước này sang nước khác như những đội kỵ binh các nước Mông Cổ, Ả rập, du mục lừng danh trong lich sử. Ngựa gắn liền với hình ảnh của các võ tướng, danh tướng, rất nhiều danh tướng từ cổ chí kim, từ đông sang tây khi được tái hiện, biết đến với hình ảnh đang cưỡi ngựa.</span></p>
<p><span style="color: #800080; font-size: 14px;">Trong các cuộc <a title="Chiến tranh" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh"><span style="color: #800080;">chiến tranh</span></a> thời cổ cho đến thời kỳ cận đại, ngày trước, ngựa chiến, giáp trụ, vũ khí là sinh mệnh của võ tướng trên sa trường. Nhiều đơn vị chiến đấu lấy con ngựa làm trung tâm như: Chiến xa (xe ngựa kéo trong chiến tranh), lực lượng kỵ binh, kỵ xạ, thám mã, khoái mã (lực lượng thông tin). Trong các cuộc chiến, việc chiến đấu trên lưng ngựa làm người ta sản sinh ra nhiều thế chiến đấu võ thuật trên lưng ngựa mà một trong thế võ thuật trứ danh là tuyệt chiêu <a title="Hồi mã thương" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93i_m%C3%A3_th%C6%B0%C6%A1ng"><span style="color: #800080;">Hồi mã thương</span></a> của <a title="Dương gia tướng" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/D%C6%B0%C6%A1ng_gia_t%C6%B0%E1%BB%9Bng"><span style="color: #800080;">Dương gia tướng</span></a>.</span></p>
<p><span style="color: #800080; font-size: 14px;"><strong>Trong đời sống</strong></span></p>
<p><span style="color: #800080; font-size: 14px;">Người Trung Quốc gọi ngựa là Mã, Nhật Bản gọi là Uma, tên Phạn của nó là Asu có nghĩa là “mau lẹ”, còn tên Ariăng của nó là Asuba có nghĩa là “chạy”. Ở Trung Quốc, có dòng <a title="Mã (họ)" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/M%C3%A3_%28h%E1%BB%8D%29"><span style="color: #800080;">họ Mã</span></a> lấy theo tên ngựa, trong đó có nhiều người nổi danh như <a title="Mã Viện" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/M%C3%A3_Vi%E1%BB%87n"><span style="color: #800080;">Mã Viện</span></a>, <a title="Mã Đằng" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/M%C3%A3_%C4%90%E1%BA%B1ng"><span style="color: #800080;">Mã Đằng</span></a>, <a title="Mã Siêu" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/M%C3%A3_Si%C3%AAu"><span style="color: #800080;">Mã Siêu</span></a>, <a title="Mã Anh Cửu" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/M%C3%A3_Anh_C%E1%BB%ADu"><span style="color: #800080;">Mã Anh Cửu</span></a>. Trong ngôn ngữ xuất hiện cụm từ thiên lý mã để chỉ những con ngựa chạy nhanh nghìn dặm, phi ngựa là cưỡi ngựa chạy như bay. Có cả cụm từ <a title="Lạm phát phi mã" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BA%A1m_ph%C3%A1t_phi_m%C3%A3"><span style="color: #800080;">lạm phát phi mã</span></a> để chỉ nạn lạm phát không kiềm chế nổi. Người ta vẫn lấy sức ngựa (mã lực) làm tiêu chuẩn tính sức mạnh của động cơ&#8230; trước pháp đình, tội phạm hay cho trước vành móng ngựa.</span></p>
<p><span style="color: #800080; font-size: 14px;">Ở <a title="Việt Nam" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Vi%E1%BB%87t_Nam"><span style="color: #800080;">Việt Nam</span></a>, đôi khi ngựa còn là biểu tượng cho sức mạnh <a title="Tình dục" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%ACnh_d%E1%BB%A5c"><span style="color: #800080;">tình dục</span></a> của phái nữ, từ lóng &#8220;<em>con ngựa</em>&#8220;, hay &#8220;<em>con đĩ ngựa</em>&#8220;, <em>quá ngựa</em> dùng để ám chỉ về những người phụ nữ có sức mạnh tình dục cao, hiếu dục trong khi đó đàn ông thì người ta thường sử dụng hình ảnh con <a title="Dê" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/D%C3%AA"><span style="color: #800080;">dê</span></a>. Ngoài ra các loài vật liên quan để ví von về tình dục của con người như con <a title="Chó" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%B3"><span style="color: #800080;">chó</span></a> (chó cái), con <a title="Gà" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/G%C3%A0"><span style="color: #800080;">gà</span></a>, con <a title="Heo" href="http://vi.wikipedia.org/wiki/Heo"><span style="color: #800080;">heo</span></a> …</span></p>
<p><span style="color: #800080; font-size: 14px;">Từ nguồn : Wikipedia</span></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://thanhlongcotu.com/?feed=rss2&#038;p=634</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
