<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Chùa Thanh Long Cổ Tự &#187; Văn Học</title>
	<atom:link href="https://thanhlongcotu.com/?cat=10&#038;feed=rss2" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://thanhlongcotu.com</link>
	<description>Chùa Thanh Long Cổ Tự</description>
	<lastBuildDate>Wed, 11 Feb 2026 05:41:29 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.0</generator>
		<item>
		<title>Thiền và Nghệ Thuật Nấu Ăn</title>
		<link>https://thanhlongcotu.com/?p=56</link>
		<comments>https://thanhlongcotu.com/?p=56#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 11 Feb 2026 05:00:34 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Thanh Long Cổ Tự</dc:creator>
				<category><![CDATA[Bài viết]]></category>
		<category><![CDATA[Văn Học]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://localhost/thanhlongcotu/?p=56</guid>
		<description><![CDATA[ard Espe Brown Diệu Liên dịch Tôi bắt đầu nấu ăn cùng lúc với việc tôi bắt đầu tập thiền vào năm 1965. Hai công việc nầy qua nhiều năm thực tập đã làm cuộc đời tôi thêm phong phú, và đến ngày nay tôi không còn có thể tách biệt chúng ra. Tôi thích [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2013/12/thien-nau-an.jpg"><img class="alignnone size-thumbnail wp-image-4827" title="thien-nau an" src="https://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2013/12/thien-nau-an-150x150.jpg" alt="" width="150" height="150" /></a></p>
<p><span style="font-size: 1em;">ard Espe Brown</span></p>
<h4><em>Diệu Liên dịch</em></h4>
<div>Tôi bắt đầu nấu ăn cùng lúc với việc tôi bắt đầu tập thiền vào năm 1965. Hai công việc nầy qua nhiều năm thực tập đã làm cuộc đời tôi thêm phong phú, và đến ngày nay tôi không còn có thể tách biệt chúng ra. Tôi thích sự pha trộn các nghi thức hành thiền trang nghiêm với các sinh hoạt đời thường. Tôi muốn mang tâm linh đến tận nhà bếp. Nếu không tâm tôi trống vắng, tẻ nhạt.<br />
Nấu ăn không phải là một phương tiện tốn thì giờ để đạt được mục đích, nhưng chính là phương thuốc, là thiền và dinh dưỡng. Thiền sư Suzuki, thầy tôi, đã dạy: “Khi làm bếp, con không chỉ sửa soạn bửa ăn, con còn sửa soạn cả tâm con và tha nhân”. Thật sai lầm khi ta quá chú trọng vào sự giải thoát ngay lập tức và sự thọ lạc tức thời, mà không hiểu rằng chính sự lao động, công sức ta bỏ vào công việc làm tâm từ bi của ta thêm rộng lớn.<br />
Khi sửa soạn bửa ăn, ta cùng đóng góp, chia sẻ với người khác việc duy trì sự sống, làm gần lại con người với nhau. Củ hành và khoai tây, táo và cải salad quyện trộn với bầu trời và mặt đất, nước và ánh sáng mặt trời. Cho và nhận quyện trộn vào nhau.<br />
Sửa soạn một bửa ăn với các vật thực tươi ngon còn là cách biểu lộ lòng chân thật, biết ơn. Với sự trân trọng, ta sửa soạn bửa ăn sao cho sự tươi ngon của vật thực được thể hiện qua các món ăn, để ta có thể biểu lộ được bản tánh thiện của mình, của người.<br />
Nhiều vấn đề cá nhân hay xã hội phát sinh ra do sự hay phân chia cuộc đời ra thành nhiều ngăn riêng biệt. Chúng ta làm việc để kiếm sống, nhưng công việc thường không mang lại kết quả như mong muốn đưa đến trạng thái chán việc, tránh né công việc. Việc nấu nướng, sửa soạn bửa ăn là một phuơng pháp giúp ta thấy cuộc sống của mình trọn vẹn hơn: ta tìm thấy niềm vui ngay trong công việc nấu nướng, chứ không chỉ sau khi các món ăn đã hoàn thành. Niềm vui khi trộn bột làm bánh, khi rửa trái cà, lặt rau, thay vì những niềm vui trống trổng, vô ích.<br />
Chúng ta thường không nghĩ đến những gì nuôi sống chúng ta, và khi ta không có gì để liên hệ với sự vật quanh ta, thì cuộc đời sẽ trở nên nghèo nàn, khô cạn. Thật tầm thường nếu chỉ coi thực phẩm như một thứ để nuôi sống ta. Giác Ngộ hay kiến tánh trong Thiền đôi khi diển dịch là ‘đạt đến sự hòa đồng’ (attaining intimacy): Thực sự nắm bắt trong tay, hiểu thấu đáo, thấm nhuần và trưởng thành. Không có gì ta có thể hòa đồng được hơn là với thực phẩm: chúng trở thành ta. Cái được coi là tâm linh không thể tách rời cái được coi là vật chất. Món ăn tâm linh dù ngay ở trước mặt, ta cũng phải bưng lên trong tay, ngửi, nếm hương vị của chúng.<br />
Do đó việc sửa soạn bửa ăn chính là cuộc sống, là sự học hỏi, là sự ý thức. Hãy ý thức từng miếng ăn ta bỏ vào miệng. Hãy nếm mổi miếng ăn với ý thức về phước báo to tát ta có được, phước báo được có khả năng nếm, cảm nhận, khả năng phát triển và nưôi dưỡng lẫn nhau.</div>
<div></div>
<div><span style="color: #000000; font-size: medium;"><span style="color: #000000; font-size: medium;">.</span></span><strong>THẤT BẠI LÀ MẸ THÀNH CÔNG</strong><br />
Tôi có thể cam đoan với các bạn là thất bại là điều không thể tránh được trong quá trình học tập nấu ăn, một điều kiện tất yếu trong quá trình trưởng thành. Nếu bạn muốn trở thành đầu bếp, nếu bạn muốn có thể tự chủ trong cuộc đời, thì các bạn sẽ phải nếm mùi thất bại trên đường đi đến đích.<br />
Gặp mưa khi tổ chức đám cưới ngoài trời, đồ ăn bị cháy, bửa tiệc không đúng hẹn, tình cảm bị gảy đổ, tất cả đều có thể xảy ra trong cuộc đời nầy. Trong đời, ai cũng ảo tưởng rằng nếu họ cư xử đúng theo lời chỉ dẩn, hành động như đã được dạy bảo, thì mọi thứ đều sẽ xảy ra theo ý muốn. Như trong các quyển sách dạy nấu ăn vẫn nói: Nếu bạn làm đúng như chúng tôi chỉ dẩn, các bạn sẽ được một món ăn hoàn toàn. Thực tế thì có biết bao hoàn cảnh có thể xảy ra hoàn toàn ngoài dự đoán của chúng ta.<br />
Những thất bại đó khiến chúng ta cảm thấy như bị bội phản: Ta hỏi Trời: Tại sao việc đó có thể xảy ra cho tôi chứ?: Tại sao lại là tôi chứ? Ta đổ lổi, kết tội người khác: Có kẻ nào đó không tuân theo lời chỉ dẩn, không làm chuyện đáng lý phải làm hay đáng lý không nên làm. Đôi khi ta còn tự nhủ sẽ chẳng bao giờ dốc tâm làm một điều gì nửa để tránh phải đối mặt với những sự thất bại dường như không thể lý giải được, khi ta đã cố gắng với hết sức mình.<br />
Tuy nhiên khả năng chịu đựng thất bại sẽ giúp ta khám phá ra được những kho tàng tiềm ẩn trong ta. Nếu sự thành công đến quá dể dàng thì ta đâu cần phải tận dụng hết khả năng của mình. Những bất trắc sẽ làm nổi bật tính năng động, thông minh, độ lượng và kiên nhẫn của ta. Có thể mọi việc xảy ra không hòan toàn như chúng ta đã dự định, nhưng có hề chi khi chúng ta đã làm với hết sức của mình.<br />
Thiền sư Nan-Chuan nói “Tôi khuyên các đệ tử tôi hãy đặt mình vào thời kỳ chưa có Phật trên thế giới nầy”. Nhưng không chỉ các thiền sư, mà các đầu bếp cũng cần được nhắc nhở là không có con đường nào, phương cách nào là đúng, là duy nhất trong việc nấu ăn. Bạn cần phải có khả năng chọn lọc những gì thích hợp với kinh nghiệm của bản thân mình, với cá tính của mình.<strong></strong><strong>VẤN ĐỀ Ý THỨC</strong><br />
Sau một tuần khổ nhọc tu tập Thiền, lần đầu tiên tôi có cơ hội được diện kiến với thiền sư Suzuki để hỏi đạo. Tôi đã ráo riết tu tập Thiền bằng phương cách tôi nghỉ là đúng. Tôi muốn đạt được điều gì đó để phản ảnh được sự cố gắng của tôi. Có lẻ tôi sẽ đạt được trạng thái ‘vô tưởng’ hay ‘lắng tâm’. Có thể tôi sẽ đạt được ‘kiến tánh’. Những thành tìch nầy còn đáng giá hơn là làm ra của cải, được thành danh hay thành công trong cuộc đời, có phải không? Ít nhất là tôi tin như thế.<br />
Vấn đề là tôi thấy mình chẳng tiến bộ hơn chút nào. Dù tôi cố gắng tập trung vào hơi thở, dường như vừa ngồi xuống tọa thiền là đầu óc tôi bắt đầu tính toán, hồi tưởng, đánh giá, xem xét tôi đang ở đâu, tôi cần phải làm gì để đạt được mục đích.<br />
Vì thế khi đến tham vấn với thiền sư Suzuki, tôi chẳng có ‘gì’ để chứng tỏ sự nổ lực của mình. Tôi cảm thấy xấu hổ, buồn bực, thối chí. Thầy sẽ nghỉ sao về một thiền sinh như mình? Tôi muốn được thầy quan tâm, nhưng tôi biết chuyện ấy làm sao có thể xảy ra? Bước vào phòng, tôi cúi lạy theo quy định, nhưng không hướng về Thiền sư, mà hướng về điện thờ, nơi có tượng Đức Phật với nhang đèn.<br />
Tôi cúi mình, đầu và hai tay chạm sàn, rồi nhấc tay lên, hai bàn tay tôi để ngữa. Thiền sư nói tôi đã không đúng cách. Ngài nói: “Khi đứng dậy, tay con phải úp xuống như thể con đang nâng chân Đức Phật lên. Với hai bàn tay ngữa ra, khum khum giống như con đang hứng cái gì, biểu hiện sự tham dục”. Giọng của Ngài dịu dàng, tự nhiên.<br />
Tôi cảm thấy dể chịu hơn khi thấy Ngài quan tâm chỉ bảo, hướng dẩn để tôi ý thức hơn về hành động của mình. Tuy nhiên tôi vẫn không lấy được vẻ tự nhiên, bình tỉnh trước mặt Ngài.<br />
Tôi ngồi trên bồ đoàn, chân xếp bằng, lưng thẳng trước mặt Ngài. Tôi không biết phải làm gì, không biết Thiền sư muốn tôi phải làm gì, nên đành ngồi im lặng. Tôi không nghỉ Ngài mảy may để ý gì đến việc tôi có đạt được ‘gì’ hay không. Thầy có vẻ tự tại, im lặng và chánh niệm trong tư thế ngồi của mình. Tôi bắt đầu cảm thấy thư giãn hơn. Sau vài phút, cuối cùng Ngài hỏi: “Con tu tập Thiền thế nào rồi?”<br />
“Không được tốt lắm”, tôi nói.<br />
“Việc gì không được tốt lắm?”<br />
“Con không thể nào kiềm chế suy nghĩ lung tung”, tôi than thở.<br />
“Vậy suy nghỉ có vấn đề gì?”, Thiền sư hỏi, và ngay lúc đó, khi tôi nhìn thẳng vào vấn đề, thì tôi không thể thấy vấn đề gì. Tôi cảm thấy nhẹ người, dể chịu hơn, nhưng vẫn khó thể chấp nhận rằng tôi không có thắc mắc. Không phải là các thiền sư khác vẫn khuyên ta chú trọng vào hơi thở, và không suy tưởng đó sao?<br />
“Khi toạ thiền, con không được suy nghỉ”, tôi giải thích.<br />
Ngài nói: “Suy nghỉ cũng là chuyện bình thường thôi, phải không?” Cách diễn tả của Ngài thật tự nhiên, không có vẻ trách móc, diểu cợt hay xét lổi.<br />
Tôi công nhận rằng suy nghỉ là chuyện bình thường, nhưng “đáng lý ra con không được suy tưởng phải không thưa Thầy?”<br />
“Chức năng của tâm là suy tưởng”, Thiền sư giải thích. “Việc con phải thực hành là không được bám theo chúng. Nếu con tiếp tục thực hành, thì dần dần sự suy nghỉ của con sẽ tự nhiên thay đổi. Đôi khi nó sẽ ngừng lại. Sự suy tưởng sẽ tự điều hòa, con không phải lo lắng”.<br />
Được lời, tôi cảm thấy an tâm hơn, tiếp tực ngồi im lặng, chờ đợi chuyện gì sẻ xảy ra kế tiếp. Căn phòng đầy tĩnh lặng. Một lúc sau Thiền sư lại lên tiếng: “Con mong mỏi điều gì hơn cả?”<br />
Một ý tưởng hiện ngay lên trong đầu tôi, nhưng tôi cân nhắc. Đó có phải là câu trã lời không? Có phải là điều tôi thật sự muốn không? Điều đó tốt hay xấu? Cuối cùng tôi nói: “Sự thật”.<br />
Tôi cảm thấy ngượng ngùng khi nói ra, nhưng đã lở nói rồi. May mà sự im lặng của Thiền sư, sự tĩnh lặng của gian phòng hình như đã phủ lấp lời tôi. Có rất nhiều điều đã được nói trong sự im lặng đó.<br />
Sau một lúc, Ngài nói: “Hãy tiếp tục với việc tu tập của con”. Chúng tôi vái chào nhau. Buổi hỏi đạo đã chấm dứt. Tôi ra về, lòng nhẹ nhỏm, sung sướng, nôn nóng được trở về với chiếu Thiền.<br />
Các bửa ăn tôi sửa soạn không phải lúc nào cũng thành công như tôi muốn, và tôi có thể xét nét, tự chê trách, nhưng tôi cũng biết không quan tâm lắm về sự suy nghỉ của mình. Tôi có thể hài lòng với những cố gắng của mình, và lại lăn xả vào bếp. Ước nguyện được nuôi dưỡng chính bản thân tôi và tha nhân đã trợ lực cho tôi.</div>
<div>
<p><strong><a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2013/12/bep-1.jpg"><img class="alignleft size-full wp-image-276" title="bep 1" src="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2013/12/bep-1.jpg" alt="" width="275" height="184" /></a>NUÔI DƯỠNG TÂM</strong></p>
<p>Cùng chia xẻ bửa ăn với nhau là một trong những phương cách giúp con người gần lại với nhau. Sự liên hệ giữa con người với nhau được thiết lập không chỉ vì ta có mặt ở cùng một nơi, cùng một lúc, cùng chia sẻ các thực phẩm, mà còn vì sự phục vụ dọn ăn, tiếp đồ ăn cho nhau.<br />
Tôi nhận ra rằng việc bưng dọn thức ăn ở thiền đường ở Tassajara là một phương pháp tu tập rất hửu hiệu, hữu hiệu vì đó là một cử chỉ rất thân thiện.<br />
Thiền sư Suzuki thường nói rằng khi ta ngồi Thiền trong im lặng với nhau, sự khác biệt giữa người nầy với kẻ kia rất dể lộ ra. Cũng vậy, khi tiếp thức ăn cho mọi người, tôi cũng đọc được sự lo lắng, lòng tham, sự an bình, lòng tôn trọng, sân hận, hay mệt mỏi ở họ. Tất cả đều phơi bày trước mắt tôi. Và ngược lại có lẻ người tiếp nhận thức ăn cũng thấy được ở người dọn sự khéo léo, vụng về, bồn chồn hay tự tại.<br />
Tâm của Thiền sư Suzuki rất cá biệt, rộng rải, phóng khoáng thay vì hẹp hòi, nhỏ mọn. Hình như Ngài không cố gắng để tạo ra một kết quả nào đó, cũng không tránh né khi chúng xuất hiện. Các cử chỉ của Ngài cũng bình thường, không có gì đáng chú ý, nhưng lúc nào Ngài cũng tự chủ. Không có vẻ hấp tấp hay bị hối thúc, nhưng chén của Ngài bao giờ cũng ở đúng chổ để tiếp nhận thức ăn, tiếp nhận tôi. Ngày nầy qua ngày khác, khi tôi tiếp thức ăn cho Ngài tôi đều cảm thế. Một tình cảm nhẹ nhàng luôn tràn dâng trong tôi: Ngài có mặt, luôn sẳn sàng chờ đón bất cứ gì có thể xảy ra.<br />
Trong một buổi vấn đáp, có người đã hỏi Thiền sư nghỉ gì khi người ấy tiếp thức ăn cho Ngài. “Ta có cảm giác như con đang dâng cho ta tất cả tình thương của mình, cả con người mình”, Ngài trã lời. Và tôi biết đó là sự thật, vì đúng đó là điều tôi đã làm khi tiếp thức ăn cho Ngài, và tôi biết là Ngài đã tiếp nhận thức ăn, tiếp nhận tôi với tất cả tấm lòng, không vướng mắc. Tôi luôn cảm thấy an lạc mổi khi được tiếp thức ăn cho Ngài.<br />
Tuy nhiên tình cảm đó nhanh chóng qua đi, khi tiếp tục làm phận sự đó với các huynh đệ của mình, tâm bình thường của tôi lại xuất hiện. Tôi trở nên vội vả, đầu óc luôn phê phán nọ kia. “Người gì chậm chạp quá, sao không để chén ra đây? Tâm trí gửi ở đâu vậy?” “Sao mà tham ăn quá?” “Thôi đừng chê món nọ, khen thứ kia nửa”. Ai cũng có điều để tôi chê trách trừ Thiền sư Suzuki.<br />
Chúng tôi đã được rèn luyện theo Thiền Nhật Bổn phải di chuyển nhanh nhẹn, phấn chấn. Vì thế tôi cố tiếp thức ăn thật nhanh cho càng nhiều người càng tốt, mà không nhận ra hành động đó thiều tế nhị, lịch sự. Thật ra tôi ngầm thi đua với người bạn tiếp thức ăn ở dãy phía bên kia xem ai là người xong trước.<br />
Những người tôi tiếp thức ăn lúc nào hình như cũng cản trở sự nhanh nhẹn của tôi. Họ như cố tình không tiếp tay với tôi. Thỉnh thoảng tôi phải dừng lại để tự nhủ mình phải cố gắng tìm trong chướng ngại một điều gì đó để học tập. Hãy chậm tay, tôi tự nhủ mình, đừng vội vã quá. Nhưng thật khó làm sao vì tôi ngầm hãnh diện khi được làm người tiếp thức ăn nhanh nhất.<br />
Tôi cũng không sung sướng gì khi bị vướng mắc như thế, nhưng tôi không biết phải làm sao. Bổng một ngày, tôi chợt nghỉ: “Sao ta không coi mọi người như chính Thiền sư Suzuki?” Thật sự có sự khác biệt giữa con người hay không? Hay sự khác biệt chỉ ở trong tư tưởng của tôi, và tôi cho chúng là quan trọng? Ai cũng có quyền được tôn trọng, được đối xử công bằng chứ? Tại sao tôi không đối xử với họ như với Thầy Suzuki, vì trong mổi người cũng có một thiền sư Sujuki. Từ đó, tôi quyết định đối xử với mọi người cùng cung cách tôi đã đối xử với thiền sư Suzuki: tôn trọng, lể độ, dịu dàng và kiên nhẫn.<br />
Tôi không biết có ai để ý đến sự thay đổi đó không. Nhưng chính tôi, tôi cảm thấy nhẹ nhàng hơn, gần gủi hơn không những chỉ với tha nhân mà còn với chính tâm thân mình. Sự thật là khi tôi không còn tính chê bai, coi thường người khác thì tôi thấy nhẹ nhỏm hơn, dể chịu hơn vì chính tôi không còn sợ người khác chê trách mình. Khi bạn tôn trọng người được bạn phục vụ, là khi bạn nuôi dưỡng tâm và tự tôn trọng mình vậy.</p>
<p><strong><a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2013/12/bep-2.jpg"><img class="alignleft size-full wp-image-277" title="bep 2" src="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2013/12/bep-2.jpg" alt="" width="275" height="184" /></a>ƠN NGƯỜI ĐẦU BẾP</strong><br />
Khi thọ lãnh thức ăn, biết rằng đã có bao sức lực, tâm trí bỏ vào việc sửa soạn, tôi cảm thấy mang ơn mọi người đầu bếp gần xa, cảm ơn tất cả cả những người đã cắt, gọt, rửa, nấu nướng, cảm ơn người trồng cây, chăm bón, thu hoạch. Tôi muốn trải rộng lòng biết ơn đến cả những người đầu bếp từ bao thế hệ đã truyền thừa cho chúng ta biết cây nấm nào có công dụng làm sao, biết ngâm trái chanh, biết xào, biết chiên.<br />
Bao nhiêu bàn tay đã chịu đựng nắng mưa, đông lạnh, chai sạn, nứt nẻ để ta có thức ăn, có thức uống.<br />
Khi bạn ngồi tĩnh lặng, có thể bạn sẽ cảm thấy trong đôi bàn tay mình, trong thân thể mình, bao cố gắng, bao công sức để chúng ta có mặt ở đây hôm nay. Thân tâm nầy hiện hửu không phải do một ngẩu nhiên nào đó, Nó đã được đào tạo từ bao trái tim không mệt mỏi. Thân thể nầy không chỉ gồm có da, xương, thịt, mà nó còn được tạo hình bởi sự cố gắng và lòng quan tâm của bao thế hệ.<br />
Hãy tràn dâng lòng biết ơn đến với mọi người !</p>
<p><em>(Lược dịch theo Tomato Blessings and Radish Teachings) &#8211; Từ nguồn VƯỜN THIỀN</em></p>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://thanhlongcotu.com/?feed=rss2&#038;p=56</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Chân Nhân</title>
		<link>https://thanhlongcotu.com/?p=4480</link>
		<comments>https://thanhlongcotu.com/?p=4480#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 18 Feb 2025 06:21:50 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Thanh Long Cổ Tự</dc:creator>
				<category><![CDATA[Bài viết]]></category>
		<category><![CDATA[Văn Học]]></category>

		<guid isPermaLink="false">https://thanhlongcotu.com/?p=4480</guid>
		<description><![CDATA[-Năng lực của con người hoàn toàn có thể thay đổi : cách ăn, cách mặc, cách đi, đứng, nằm, ngồi… bằng một ý chí sức mạnh quyết định chỉ vì một mục đích nào đó mà con người đã chọn. Nhưng sự thay đổi, gặp nhau, hòa nhập giữa hai cực: “tính chất, bản [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>-Năng lực của con người hoàn toàn có thể thay đổi : cách ăn, cách mặc, cách đi, đứng, nằm, ngồi… bằng một ý chí sức mạnh quyết định chỉ vì một mục đích nào đó mà con người đã chọn.<br />
Nhưng sự thay đổi, gặp nhau, hòa nhập giữa hai cực: “tính chất, bản chất,nhân cách, đạo đức, đạo hạnh… và nền tảng hoàn thiện của một chân nhân”. Hai điểm cực đó rất cách biệt, xa tầm. Cần rất nhiều nỗ lực tự thăng hoa chuyển hóa.<br />
Bởi vậy đừng dùng cặp mắt kiến màu nhận thức của mình, mà đánh giá chủ quan về một hiện tượng.<br />
( Xin đừng lấy một tiêu chí nào đó mà hỏi: “bạn đã làm được như vậy chưa ?”. Xin thưa : có thể tôi và một số người cũng đã làm được như thế, nhưng ở những khía cạnh khác còn tích cực hơn.)<br />
-Thiện lương vẫn còn đó trong sâu thẳm con người ở xứ ta. Nhưng cái thiếu là định hướng cho một mặt bằng xã hội nhân sinh.<br />
Bởi vậy, từ đó là một mảnh đất màu mỡ cho những hiện tượng… Đẩy xu hướng phân cực thành hai: “xấu ác và u mê” vận hành theo chiều hướng văn hóa bầy đàn, hiệu ứng đám đông.<br />
-Hãy học tập theo sự tỉnh sáng (…!!!) thì mới hết…!!!<a href="https://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2025/02/images.jpeg"><img class="aligncenter size-thumbnail wp-image-4481" title="images" src="https://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2025/02/images-150x150.jpeg" alt="" width="150" height="150" /></a></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://thanhlongcotu.com/?feed=rss2&#038;p=4480</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>CON ĐƯỜNG KHOAN DUNG</title>
		<link>https://thanhlongcotu.com/?p=4459</link>
		<comments>https://thanhlongcotu.com/?p=4459#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 21 Jan 2025 07:48:27 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Thanh Long Cổ Tự</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tài liệu]]></category>
		<category><![CDATA[Văn Học]]></category>

		<guid isPermaLink="false">https://thanhlongcotu.com/?p=4459</guid>
		<description><![CDATA[Chúng ta không thể nào có hạnh phúc, nếu trong tâm thức của mỗi chúng ta có quá nhiều tham lam mơ ước . Bất cứ ước mơ nào cũng làm cho đời sống của chúng ta đều đi bị hỏng đất. Ta có những giấc mơ làm giàu, giấc mơ làm những nhà tỷ phú. [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2025/01/kdung1.jpg"><img class="aligncenter size-thumbnail wp-image-4464" title="kdung" src="https://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2025/01/kdung1-150x150.jpg" alt="" width="150" height="150" /></a></p>
<p><span style="font-size: 14px;"><span style="color: #0000ff;">Chúng ta không thể nào có hạnh phúc, nếu trong tâm thức của mỗi chúng ta</span></span><span style="color: #0000ff; font-size: 14px;"> có quá nhiều tham lam mơ ước . Bất cứ ước mơ nào cũng làm cho đời sống của chúng ta đều đi bị hỏng đất.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Ta có những giấc mơ làm giàu, giấc mơ làm những nhà tỷ phú. Chính giấc mơ nầy đã đưa ta chạy đua về hướng ấy, và đã giết chết đời sống thanh thản và tự do của ta.</span><br />
<span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Không có nhà tỷ phú nào không kiêu hãnh về tiền bạc, nhưng chính niềm kiêu hãnh ấy, lại tạo ra những sự lo lắng, sợ hãi, nghi ngờ và bất hạnh cho họ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Ở trên đời, không có người tham giàu nào bận rộn đối với áo cơm, nhưng họ rất bận rộn đối với cách cất giữ tiền bạc, họ lo lắng về sự mất mát tiền bạc và tài sản.. Những sự biến động bất chừng của thị trường chứng khoán, hay bất cứ những sự biến động nào, đều khiến cho họ ăn không ngon và ngủ không yên.</span><br />
<span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Trong tâm thức họ, những hạt giống nghi ngờ và đề phòng, chúng hoạt động hết sức mãnh liệt và vì vậy, họ tuy ở trên tiền bạc, mà hạnh phúc hay bình an đối với họ quả thực là hết sức khan hiếm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Có khi ta không ước mơ làm người giàu, nhưng ước mơ làm người có nhiều quyền lực trong xã hội. Chính ước mơ nầy đã giết chết những tâm hồn thanh thản và tự do của ta. Tâm kiêu mạn ở trong mỗi chúng ta thường làm sinh khởi những giấc mơ quyền lực cho ta và đưa ta chạy đua theo hướng ấy.</span><br />
<span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Ở trên đời không có người tham quyền lực nào thực sự có tự do. Và ở trong đời, không có người nắm quyền lực nào là không sợ hãi. Ta có thể đặt câu hỏi rằng, ở trên đời, ai là người có nhiều sự sợ hãi, lo lắng và đa nghi nhất? Trả lời chính xác cho câu hỏi ấy, chính là những người nắm quyền lực. Tại sao? Vì người đam mê quyền lực thường được dẫn khởi từ lòng tham và tâm kiêu mạn của họ. Lòng tham thường dẫn sinh sự lo lắng và sợ hãi. Lòng tham giết chết sự tự do trong đời sống của mỗi chúng ta. Và tâm kiêu mạn thường dẫn sinh cảm giác cô độc cho ta và giết chết đời sống từ hòa ở trong ta đối với mọi người.</span><br />
<span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Lại nữa, người nắm quyền lực, những hạt giống nghi ngờ hoạt động ở trong tâm thức của họ là vận hành thường xuyên và mãnh liệt, khiến niềm tin tưởng của họ đối với mọi người bị xói mòn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Có đôi khi ta không ước mơ làm giàu hay ước mơ nắm quyền lực, nhưng lại ước mơ mình sẽ là người đẹp hay ít ra mình được sống với người đẹp.</span><br />
<span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Ước mơ mình sẽ là người đẹp và được sống với người đẹp, đó là những ước mơ chung của tất cả chúng ta. Nhưng, có những phương pháp nào giúp ta đạt được những ước mơ ấy? Biến ước mơ trở thành hiện thực chẳng đơn giản chút nào.</span><br />
<span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Có những khi ta chỉ đẹp thể xác, nhưng không đẹp tâm hồn, hoặc có khi ta chỉ đẹp tâm hồn, nhưng không đẹp thể xác, hoặc có khi ta không đẹp thể xác mà cũng không đẹp luôn cả tâm hồn và có những khi ta vừa đẹp thể xác và đẹp luôn cả tâm hồn.</span><br />
<span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Ta muốn đẹp thể xác, các Thẩm mỹ viện có thể giúp được cho ta, nhưng ta muốn đẹp tâm hồn, thì không có bất cứ Thẩm mỹ viện nào có thể giúp ta nổi.</span><br />
<span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Ta muốn có một tâm hồn đẹp, thì tâm hồn ta phải có đầy đủ bốn chất liệu Từ, Bi, Hỷ, Xả.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Ta có lòng Từ là ta biết chăm sóc nỗi đau của mình và người khác, khiến cho những nỗi đau ấy không loan lỗ ra trên mặt ý thức, cũng như trên những biểu hiện thực tế của thân và ngữ.</span><br />
<span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Ta có lòng Bi là ta biết làm giảm và triệt tiêu khổ đau của ta và người, không phải chỉ ở mặt hiện tượng mà ở mặt bản chất; triệt tiêu không phải chỉ mặt biểu hiện của ý thức mà ở mặt tích lũy của tâm thức.</span><br />
<span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Ta có lòng Hỷ là tâm ta không có những hạt giống khoe khoan những gì tốt đẹp của mình và tật đố hay ganh tỵ đối với những gì tốt đẹp của người. Ta biết khắc phục những gì thấp kém nơi ta và tùy thuận với những gì tốt đẹp của người.</span><br />
<span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Ta có lòng Xả là ta có hành động để giúp người, nhưng tâm không hề thủ lợi, không hề khởi lên những ý niệm về cái tôi và cái của tôi.</span><br />
<span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Bốn chất liệu Từ, Bi, Hỷ, Xả nầy sẽ tạo nên một tâm hồn và đời sống cao đẹp cho ta, không phải chỉ khi ta thức mà cả khi ta ngủ, không phải chỉ trước mặt mọi người mà cả sau lưng mọi người, không phải chỉ nơi nầy mà cả nơi kia, không phải chỉ đời nầy mà cả đời khác nữa.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Như vậy,<em><strong> Từ, Bi, Hỷ, Xả</strong></em> là chất liệu tạo nên cái đẹp cho ta từ nội dung đến hình thức, từ thân thể đến tâm hồn. Cái đẹp ấy, chính là cái đẹp của chân thiện và chân mỹ.</span><br />
<span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Ta chỉ ước mơ mà không có phương pháp thực hiện, thì những ước mơ của ta chỉ là hão huyền. Hạnh phúc đến với ta chỉ là những kết quả của ước mơ. Kết quả ấy chỉ xẩy ra cho ta khi nào ta có một tác nhân và tác duyên lành mạnh. Tác nhân lành mạnh là tâm cao thượng và trong sáng nơi ta; tác duyên lành mạnh là thầy ta, là những thiện hữu tri thức của ta đã tác thành và hỗ trợ cho ta khiến cho tâm từ bi, tâm hỷ xả nơi ta càng lúc càng phát triển lớn mạnh làm dẫn sinh hoa trái của hạnh phúc.</span><br />
<span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Hoa trái hạnh phúc đích thực chỉ có mặt, khi tâm ta đã có đầy đủ chất liệu của khoan dung và độ lượng hay trí tuệ và từ bi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;"><strong>Thích Thái Hòa</strong> (Theo Hoằng Pháp)</span></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://thanhlongcotu.com/?feed=rss2&#038;p=4459</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>BỐN HẠNG NGƯỜI ĐÁNG THÂN CẬN</title>
		<link>https://thanhlongcotu.com/?p=4120</link>
		<comments>https://thanhlongcotu.com/?p=4120#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 04 Feb 2024 08:51:47 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Thanh Long Cổ Tự</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tài liệu]]></category>
		<category><![CDATA[Văn Học]]></category>

		<guid isPermaLink="false">https://thanhlongcotu.com/?p=4120</guid>
		<description><![CDATA[Bốn hạng người đáng thân cận - Một trong những dấu hiệu để xét đoán về nhân cách của ai đó là nhìn xem họ thân thiết với những hạng người nào. Bởi gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. Đi trong mù sương lâu dần sẽ thấm ướt. Vì thế mỗi người cần [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><span style="font-size: 14px;"><a href="https://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2024/02/ban.jpg"><img class="aligncenter size-medium wp-image-4121" title="ban" src="https://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2024/02/ban-300x156.jpg" alt="" width="300" height="156" /></a></span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Bốn hạng người đáng thân cận</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">- Một trong những dấu hiệu để xét đoán về nhân cách của ai đó là nhìn xem họ thân thiết với những hạng người nào. Bởi gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. Đi trong mù sương lâu dần sẽ thấm ướt. Vì thế mỗi người cần biết chọn bạn mà chơi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Chơi với bạn hiền thì mình được thơm lây, trở nên thiện lành. Ngược lại, chơi với bạn ác thì lâu ngày mình cũng bị tập nhiễm theo thói xấu của họ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">“Một thời Phật ở tại núi Kỳ-xà-quật, thành La-duyệt-kỳ cùng với chúng Đại Tỳ-kheo 1.250 người.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Bấy giờ, vào lúc thích hợp, Ðức Thế Tôn khoác y cầm bát vào thành khất thực. Lúc bấy giờ tại thành La-duyệt-kỳ có con trai của trưởng giả tên là Thiện Sinh, vào buổi sáng sớm, ra khỏi thành, đi đến khu vườn công cộng sau khi vừa tắm gội xong, cả mình còn ướt, hướng đến các phương Đông, Tây, Nam, Bắc, Trên, Dưới mà lạy khắp cả.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Phật lại bảo Thiện Sinh:</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">- Có bốn hạng người thân đáng thân vì thường đem lại lợi ích và che chở. Những gì là bốn? 1- Ngăn làm việc quấy. 2- Thương yêu. 3- Giúp đỡ. 4- Đồng sự. Đó là bốn hạng người thân đáng thân cận.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">- Này Thiện Sinh, hạng ngăn quấy thì thường làm bốn việc đem lại nhiều lợi ích và hay che chở: 1- Thấy người làm ác thì hay ngăn cản. 2- Chỉ bày điều chánh trực. 3- Có lòng thương tưởng. 4- Chỉ đường sinh Thiên. Đó là bốn trường hợp ngăn cản việc quấy đem lại nhiều lợi ích và hay che chở.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">- Hạng thương yêu thì thường làm bốn việc: 1- Mừng khi mình được lợi. 2- Lo khi mình gặp hại. 3- Ngợi khen đức tốt mình. 4- Thấy mình nói ác thì tìm cách ngăn cản. Đó là bốn điều thương yêu đem lại nhiều lợi ích và hay che chở.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">- Hạng giúp đỡ có bốn việc. Những gì là bốn? Đó là: 1- Che chở mình khỏi buông lung. 2- Che chở mình khỏi hao tài vì buông lung. 3- Che chở mình khỏi sợ hãi. 4- Khuyên bảo mình trong chỗ vắng người.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">- Hạng đồng sự thì thường làm bốn việc: 1- Không tiếc thân mạng với bạn. 2- Không tiếc của cải với bạn. 3- Cứu giúp bạn khỏi sợ hãi. 4- Khuyên bảo bạn lúc ở chỗ vắng người.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Nói như vậy xong, Ðức Thế Tôn lại nói bài tụng:</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Bạn ngăn ngừa điều quấy</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Bạn từ mẫn thương yêu</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Bạn làm lợi ích bạn</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Bạn đồng sự với bạn.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Đó bốn hạng đáng thân</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Người trí đáng thân cận</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Thân hơn người thân khác</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Như mẹ hiền thân con.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Muốn thân người đáng thân</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Hãy thân bạn kiên cố</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Người bạn đủ giới hạnh</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Như lửa sáng soi người”.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">(Kinh Trường A-hàm,</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">kinh Thiện Sinh, số 16 [trích])</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Theo tuệ giác của Thế Tôn, bốn hạng người nêu trên đáng để thân cận, vì họ thường đem lại lợi ích và hay che chở cho mình. Ai ngăn ta làm ác, người ấy thật dũng cảm, rất đáng thân cận. Ai biết sẻ chia, mừng khi ta được lợi và lo khi ta bị hại, người ấy thực sự yêu thương ta, rất đáng thân cận. Ai che chở cho ta khi lo sợ, khi buông lung, khi thất thế sa cơ, người ấy hết lòng giúp đỡ ta, rất đáng thân cận. Ai sống hết mình, không tiếc thân mạng và tiền của, không nề lao nhọc, lại còn khuyên bảo ta tế nhị, kín đáo và chân tình, người ấy thực sự đồng hành với ta, rất đáng thân cận.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Ở đời, tìm ra những hạng người có bốn đặc điểm kể trên để thân cận là rất khó. Phải có nhân duyên, quan trọng là phải thành tâm hướng thiện thì mới có thể gặp gỡ và kết duyên lành với bạn tốt lâu dài. Gặp được người tốt mà mình chỉ nhờ cậy và không sửa mình cho tốt thì duyên lành ấy cũng chóng tan. Thế nên, phải phát khởi thiện duyên, nguyện sửa mình để sống lành mới mong gặp được bạn tốt, để cùng nhau xây dựng một cộng nghiệp hạnh phúc, an vui.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #0000ff;">Quảng Tánh/Báo Giác Ngộ</span></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://thanhlongcotu.com/?feed=rss2&#038;p=4120</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>TUỆ và THỨC</title>
		<link>https://thanhlongcotu.com/?p=4114</link>
		<comments>https://thanhlongcotu.com/?p=4114#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 04 Feb 2024 08:39:03 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Thanh Long Cổ Tự</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tài liệu]]></category>
		<category><![CDATA[Văn Học]]></category>

		<guid isPermaLink="false">https://thanhlongcotu.com/?p=4114</guid>
		<description><![CDATA[Tuệ &#38; thức - Tuệ là trí tuệ tức cái biết, thức là nhận thức cũng là cái biết. Cả hai đều là cái biết nhưng có đặc điểm khác nhau. Pháp thoại này, Tôn giả Xá-lợi-phất đã khéo léo thỉnh ý Tôn giả Đại Câu-hy-la nhằm giúp hội chúng sơ cơ nhận ra sự [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 14px; color: #993300;"><img class="aligncenter size-full wp-image-4115" title="tue" src="https://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2024/02/tue.jpg" alt="" width="259" height="194" />Tuệ &amp; thức</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">- Tuệ là trí tuệ tức cái biết, thức là nhận thức cũng là cái biết. Cả hai đều là cái biết nhưng có đặc điểm khác nhau. Pháp thoại này, Tôn giả Xá-lợi-phất đã khéo léo thỉnh ý Tôn giả Đại Câu-hy-la nhằm giúp hội chúng sơ cơ nhận ra sự khác biệt này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">Một thời Phật du hóa tại thành Vương-xá, trong rừng Trúc, vườn Ca-lan-đa. Bấy giờ Tôn giả Xá-lê Tử vào lúc xế từ tĩnh tọa dậy, đi đến chỗ Tôn giả Đại Câu-hy-la, chào hỏi nhau xong rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Xá-lê Tử nói rằng:</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">- Này Hiền giả Đại Câu-hy-la, tôi có điều muốn hỏi, Hiền giả nghe cho chăng?</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp rằng:</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">- Thưa Tôn giả Xá-lê Tử, muốn hỏi xin cứ hỏi, tôi nghe xong sẽ suy nghĩ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">Tôn giả Xá-lê Tử hỏi rằng: …</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">- Thế nào là trí tuệ?</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp rằng:</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">- Biết như vậy, cho nên nói là trí tuệ. Biết những gì? Biết như thật ‘Đây là Khổ’, biết như thật ‘Đây là Khổ tập’, ‘Đây là Khổ diệt’, ‘Đây là Khổ diệt Đạo’. Biết như vậy cho nên được nói là trí tuệ.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">Lại hỏi:</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">- Hiền giả Đại Câu-hy-la, thế nào là thức?</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">- Thức, nhận thức, cho nên nói là thức. Nhận thức những gì? Nhận thức sắc, nhận thức thanh, hương, vị, xúc, pháp. Thức, nhận thức, cho nên nói là thức.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">Lại hỏi:</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">- Hiền giả Đại Câu-hy-la, ngài lấy gì để biết?</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">- Tôi do trí tuệ mà biết.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">Lại hỏi:</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">- Hiền giả Đại Câu-hy-la, trí tuệ có nghĩa gì? Có sự thù thắng gì? Có công đức gì?</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">- Trí tuệ có nghĩa yểm ly, có nghĩa vô dục, có nghĩa thấy như thật.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">Tôn giả Xá-lê Tử nghe xong khen rằng:</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">Lành thay! Lành thay! Hiền giả Đại Câu-hy-la”.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">(Kinh Trung A-hàm, phẩm Bô-đa-lợi, kinh Đại Câu-hy-la, số 211 [trích, lược])</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;"> </span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">Tuệ là trí tuệ tức cái biết, thức là nhận thức cũng là cái biết. Cả hai đều là cái biết nhưng có đặc điểm khác nhau. Pháp thoại này, Tôn giả Xá-lợi-phất đã khéo léo thỉnh ý Tôn giả Đại Câu-hy-la nhằm giúp hội chúng sơ cơ nhận ra sự khác biệt này.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">Cái biết thông thường mà chúng ta sử dụng hàng ngày là nhờ sáu giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) mà biết sáu trần cảnh (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). Nhờ đó, con người biết được thân, tâm và thế giới xung quanh. Biết nhiều, biết đúng là nhờ học cao hiểu rộng, kinh nghiệm sâu, trí nhớ tốt, thông minh lanh lợi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">Giáo lý đạo Phật trân trọng cái biết thức tri này. Nếu được định hướng đúng, kho tàng tri thức của nhân loại sẽ góp phần xây dựng xã hội và thế giới tốt đẹp hơn. Có điều cái biết này có giới hạn, ngoài phạm vi nhận thức của giác quan thì con người không thể biết, phải nhờ máy móc hỗ trợ. Vì thế có vô vàn sự vật, hiện tượng mà nhân loại chưa biết hết, hoặc chỉ biết một phần qua lăng kính nghiệp của loài người.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">Quan trọng hơn, cái biết của thức tri khó nhận ra sự thật; nhất là sự thật về Bốn Thánh đế. Thức tri cũng không có khả năng làm giảm thiểu tham sân si, thậm chí khiến cho chúng ngày càng lớn mạnh thêm. Đó cũng là lý do vì sao khi tri thức của nhân loại ngày càng phát triển thì chiến tranh, xung đột, bạo lực và khổ đau trên thế giới vẫn không giảm.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">Trí tuệ đã hóa giải được bài toán khó khăn này. Bước đầu là nhận ra sự thật về khổ, vô thường, vô ngã của thân, tâm và thế giới. Biết được khổ, nguyên nhân của khổ và con đường diệt khổ chính là thực hành Bát Thánh đạo để vượt thoát khổ đau. Nhờ thấy biết đúng sự thật nên xả ly, buông bỏ tham ái và chấp thủ. Nhân khổ đau được chấm dứt, hoa trái hòa bình, an lạc sẽ xanh tươi.</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;">Quảng Tánh/Báo Giác Ngộ</span></p>
<p><span style="font-size: 14px; color: #993300;"> </span></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://thanhlongcotu.com/?feed=rss2&#038;p=4114</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>TỪ Ô CỬA THIỀN &#8211; LẶNG NHÌN CUỘC SỐNG</title>
		<link>https://thanhlongcotu.com/?p=3605</link>
		<comments>https://thanhlongcotu.com/?p=3605#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 08 Jan 2023 07:49:29 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Thanh Long Cổ Tự</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tài liệu]]></category>
		<category><![CDATA[Văn Học]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thanhlongcotu.net/?p=3605</guid>
		<description><![CDATA[“Người tâm đã tĩnh lặng thấy “tài, sắc, danh…” như chất độc, vì chúng dễ dàng giết chết những điều thiện trong lòng; nhưng với người chưa làm chủ được tâm, họ luôn xem những thứ đó như những gì tuyệt diệu nhất thế gian”. “Tài, sắc, danh…” trong kinh gọi là “ngũ dục”, năm [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<h1><a href="https://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2023/01/images-1.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-3648" title="images (1)" src="https://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2023/01/images-1.jpg" alt="" width="275" height="183" /></a></h1>
<h1><span style="font-size: 14px;"><strong>“Người tâm đã tĩnh lặng thấy “tài, sắc, danh…” như chất độc, vì chúng dễ dàng giết chết những điều thiện trong lòng; nhưng với người chưa làm chủ được tâm, họ luôn xem những thứ đó như những gì tuyệt diệu nhất thế gian”.</strong></span></h1>
<h1><span style="font-size: 14px;">“Tài, sắc, danh…” trong kinh gọi là “ngũ dục”, năm thú vui trần tục: tài sản, nhan sắc, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ.</span></h1>
<h1><span style="font-size: 14px;">Những thứ đó cũng là niềm vui, niềm vui trong chốn trần tục, chúng biến những con người còn mãi loay hoay trong đó thành người trần tục, và biến những nơi họ đi qua thành nơi trần tục; còn những người cũng sống trong đó, cũng đi ngang qua đó, cũng giáp mặt với chúng thường ngày, nhưng không để “tài, sắc, danh…” đè nặng lòng mình là người thoát tục, không vướng vào nên thoát, như dòng nước đi xuyên qua tấm lưới giăng.</span><span style="font-size: 14px;">Tất cả chúng ta ai cũng đi tìm hạnh phúc, mỗi người đi về một hướng khác nhau, tìm đến nhiều thứ khác nhau, tìm kiếm một nơi để cất bình yên của mình vào đó.</span><br />
<span style="font-size: 14px;"> Người đang cất bình yên của mình vào đâu ?!  </span><span style="font-size: 14px;">Có lẽ ai cũng biết, nếu muốn hạnh phúc một ngày thì đuổi theo và giữ lấy những điều phù hoa “tài sắc danh…”; còn nếu muốn hạnh phúc một đời thì cố giữ lấy trái tim từ bi và hiểu biết rồi đi qua cuộc sống. </span><span style="font-size: 14px;">Niềm vui mong manh trong những “tài sắc danh…” là thứ mà cuộc sống giăng ra để cho chúng ta vướng lại trong đó, loay hoay mãi trong đó, có kẻ vướng vào sắc, có kẻ vướng vào danh, có người vướng vào tài sản… rồi quên đi giấc mơ bình yên thực sự ngày trước của mình. </span><span style="font-size: 14px;">Có kẻ đã mang hết dũng khí quay lưng đi, nhưng do không chịu nổi giá lạnh từ cuộc sống, nên lầm lũi quay trở về, nhặt lên lại hòn than cháy đỏ mà ngày trước đã từng làm mình bỏng tay…</span></h1>
<h1><span style="font-size: 14px;">NGUỒN : BANMAIHONG</span></h1>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://thanhlongcotu.com/?feed=rss2&#038;p=3605</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Duyên kỳ ngộ</title>
		<link>https://thanhlongcotu.com/?p=339</link>
		<comments>https://thanhlongcotu.com/?p=339#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 28 Jan 2021 02:00:52 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Thanh Long Cổ Tự</dc:creator>
				<category><![CDATA[Bài viết]]></category>
		<category><![CDATA[Văn Học]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thanhlongcotu.net/?p=339</guid>
		<description><![CDATA[Mùa thu năm ấy, cũng là một mùa Vu Lan Báo hiếu. Chùa Thanh Long Cổ Tự  vẫn  với cảnh người lặng lẽ, gió thu mát dịu, lá rừng phe phẩy nhẹ êm. Đón chào một duyên kỳ ngộ hôm nay, đó là anh Tâm – chị Đài, một tín thí chủ ghé đến từ [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong><a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2013/12/B.77.jpg"><img class="alignleft  wp-image-291" title="B.77" src="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2013/12/B.77.jpg" alt="" width="229" height="320" /></a><br />
</strong></p>
<p><strong>Mùa thu năm ấy, cũng là một mùa Vu Lan Báo hiếu. Chùa Thanh Long Cổ Tự  vẫn  với cảnh người lặng lẽ, gió thu mát dịu, lá rừng phe phẩy nhẹ êm. Đón chào một duyên kỳ ngộ hôm nay, đó là anh Tâm – chị Đài, một tín thí chủ ghé đến từ chuyến đi thập tự dâng hương lễ Phật.</strong></p>
<p><strong>Nhìn diện mạo thành tín phúc hậu của một vị khách lần đầu tiên mới gặp, như có một sự tương ứng đồng cảm vô hình nào đó níu kéo thời gian hỏi han đàm đạo.</strong></p>
<p><strong>Hồi đó chùa TLCT chưa có giảng đường, phòng khám bệnh, thậm chí không có một chổ tiếp khách nào riêng biệt. Chúng tôi ngồi tạm trên bộ ghế cũ mục bày ra trước nơi thờ tự của ngôi chùa cổ bây giờ, mãi mê cuốn hút với những đề tài tiếp nối, mặc nhiên chuyển mạch một cách hệ thống êm đềm trôi qua … vậy đó mà hơn cả 2 giờ đồng hồ tâm tâm sự sự, ấy rồi một lời kết từ nơi anh mà tôi như còn nhớ rõ : “… <em>từ trước đến bây giờ, đây là lần thứ hai được gặp một vị Thầy mà con tâm đắc, trước kia …”.</em></strong></p>
<p><strong>Đến bây giờ nhớ lại, ngày ấy trong mỗi chúng tôi dường như cõi lòng đều trống rỗng. Tôi thì  sau những tháng ngày  &#8220;<em>lều chõng lên kinh&#8221; </em>còn chập chờn ngái ngủ, hơn nữa &#8220;<em>lăn bánh&#8221; </em>cũng rã rời cốt trục vơi thủ tục phục sinh TLCT, từng nhủ thầm “ thôi thì, tạm dừng vai trò của mình từ đây, còn những việc qua rồi là chỉ để phục sức hồi sinh cho một ngôi chùa cổ, mượn lấy cảnh đất trời an trú tiêu dao, tuỳ duyên chấp sự”. Còn anh, nghe đâu cũng mang một dư hưởng mệt mỏi trong cạnh tranh kinh doanh cọ xát. Bởi vậy, trong lúc nầy chúng tôi như đồng cảm với nhau một tâm hồn cần ngủ yên lắng đọng, cũng chẳng ràng buộc gì với hứa hẹn về sau, ngoài những gì thật hoan hỷ vừa được tâm giao.</strong></p>
<p><strong>Nhưng rồi, việc gì  đến thì cũng đã đến. Tôi định dựng thêm một gian nhà lá ở triền đất cạnh hông chùa làm nơi sinh hoạt riêng biệt tạm, với những điều kiện sẳn có do đạo tràng Phật tử hộ trì  nuôi heo đất phước điền tiết kiệm được của hai năm qua. Hội ý, bàn qua tính lại, cũng chưa ngã ngũ phải làm cách nào cho đúng mức để sử dụng đồng tiền khiêm tốn mà Phật tử, thí chủ đã chắc lót dành dụm được. Đúng lúc nầy, anh lại trở về viếng chùa lễ Phật, nhìn thấy mặt bằng vừa được sang lấp, anh hỏi tôi có kế hoạch gì ? …</strong></p>
<p><strong>Từ đó tiếp cận mỗi khi xúc tác hành sử công việc, tôi đã nhận ra rằng anh là người cẩn trọng trong ý tứ, chơn chất với ngôn từ, nhưng đã bắt tay vào việc thì đến tận cùng hoàn tất. Bình thời thì  ít muốn bày việc sinh công, vẽ vời hứa hẹn, lúc thấy chuyện phúc ích thì tiếp sức hỗ tương, hết lòng thúc đẩy, nuôi dưỡng mọi thành tựu cho tồn tại  một cách gắn bó thuỷ chung. Nay anh ân cần vận dụng kết nối mọi tấm lòng nhân đạo từ tâm có được trong công việc làm ăn kinh doanh của mình, để tài trợ chính cho phòng chẩn trị YHCT-Từ thiện, cũng là tín thí chủ hộ trì phương tiện cho đạo tràng tu tập hằng tháng tại TLCT .</strong></p>
<p><strong>Với đối tác đồng nghiệp cộng sự , anh  luôn cư xử hài hoà thân thiện. Mỗi lúc cùng nhau về chùa là như cả một đại gia đình sum vầy trong tình thương hoà nhập, thật xứng đáng với tên gọi  của một công ty mang tên </strong><strong><em>Hưng Gia Phúc</em></strong><strong> </strong><strong>mà TLCT đã góp phần trí danh định hiệu.</strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong><a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2013/12/SANY0537.jpg"><img class="alignleft size-medium wp-image-433" title="SANY0537" src="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2013/12/SANY0537-300x225.jpg" alt="" width="300" height="225" /></a></strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong><strong><strong><a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2013/12/SANY0210.jpg"><img title="SANY0210" src="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2013/12/SANY0210-300x225.jpg" alt="" width="300" height="225" /></a></strong></strong></strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Hiện nay, chùa TLCT đã có một giảng đường rộng 200m2 ; Phòng khám, bốc thuốc, châm cứu trị bệnh miễn phí ; đài Quan Am Các tô đắp 6 cột rồng chầu. Tất cả hạng mục công trình nầy đều có sự chung tay góp sức lớn của anh chị Tâm – Đài  và Phật tử, thí chủ, ân nhân hết lòng ủng hộ. Đây là một công đức thành tựu hữu ích thiết thực nhất mà TLCT chúng tôi nơi đây chân thành ghi nhận trân trọng .</strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong>  TLCT : Trụ trì - <strong>TNC </strong></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: center;"><strong><br />
</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://thanhlongcotu.com/?feed=rss2&#038;p=339</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>SỐNG THIỀN</title>
		<link>https://thanhlongcotu.com/?p=1514</link>
		<comments>https://thanhlongcotu.com/?p=1514#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 20 Jan 2017 03:23:38 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Thanh Long Cổ Tự</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tài liệu]]></category>
		<category><![CDATA[Văn Học]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thanhlongcotu.net/?p=1514</guid>
		<description><![CDATA[THỜI GIAN Hãy tưởng tượng có một ngân hàng ghi vào tài khoản của bạn 86. 400 đô la mỗi sáng. Nhưng đêm về ngân hàng sẽ xóa sạch tiền nếu bạn không dùng hết trong ngày. Vậy, phần sai ngạch của ngày này không được chuyển sang ngày khác. Bạn sẽ làm gì&#8230; Dĩ [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p align="center"><span style="font-size: 16px; color: #800000;"><strong>THỜI GIAN<br />
</strong></span></p>
<p><span style="color: #800000;"><a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2017/01/dh.jpg"><span style="color: #800000;"><img class="aligncenter size-full wp-image-1515" title="dh" src="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2017/01/dh.jpg" alt="" width="229" height="220" /></span></a></span></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 16px; color: #800000;">Hãy tưởng tượng có một ngân hàng ghi vào tài khoản của bạn 86. 400 đô la mỗi sáng. Nhưng đêm về ngân hàng sẽ xóa sạch tiền nếu bạn không dùng hết trong ngày. Vậy, phần sai ngạch của ngày này không được chuyển sang ngày khác. Bạn sẽ làm gì&#8230; Dĩ nhiên là bạn tận dụng từng đồng để không lãng phí vì số tiền mất đi, đúng không ?&#8230;</span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #800000;"> Mỗi người trong chúng ta đều có một ngân hàng như thế, đó chính là “Thời Gian”.</span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #800000;"> Mỗi sáng nó ghi vào tài khoản của bạn 86. 400 giây. Khi đêm về, nó xóa hết phần thời gian bạn chưa kịp đầu tư vào việc có ích. Ngân hàng này không chuyển bất cứ khoản sai ngạch nào còn lại trong ngày này và cũng không cho bạn chi trội.</span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #800000;"> Mỗi ngày bạn nhận được một tài khoản mới. Cứ đêm về phần dư lại trong ngày sẽ bị xóa. Nếu bạn không tận dụng được khoản gởi đó, người thiệt thòi chính là bạn. Không thể quay lại quá khứ, cũng không thể cưỡng lại “ngày mai”. Bạn phải sống trong hiện tại chỉ bằng khoản đã được gởi của chính ngày hôm nay. Vì vậy, hãy đầu tư thời gian của từng ngày một cách khôn ngoan để làm lợi nhiều nhất cho sức khỏe, hạnh phúc, và sự thành đạt của chính bản thân bạn. </span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #800000;"> Đồng hồ vẫn đều đều gõ nhịp, bạn hãy tận dụng ngày hôm nay.</span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #800000;"> Để hiểu được giá trị của một năm, hãy hỏi một học sinh vừa thi rớt.</span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #800000;"> Để hiểu được giá trị của một tháng, hãy hỏi một bà mẹ sinh non.</span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #800000;"> Để hiểu được giá trị của một tuần, hãy hỏi tổng biên tập của một tờ tuần báo.</span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #800000;"> Để hiểu được giá trị của một giờ, hãy hỏi người yêu nhau đang mong chờ được gặp mặt.</span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #800000;"> Để hiểu được giá trị của một phút, hãy hỏi người vừa trễ tàu.</span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #800000;"> Để hiểu được giá trị của một giây, hãy hỏi một người vừa thoát hiểm trong gang tấc.</span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #800000;"> Để hiểu giá trị của một nghìn giây, hãy hỏi chủ nhân của một chiếc huy chương Thế Vận Hội.</span></p>
<p style="text-align: left;"><a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2017/01/mb.jpg"><img class="aligncenter" title="mb" src="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2017/01/mb.jpg" alt="" width="284" height="177" /></a></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 16px; color: #800000;">Hãy biết trân trọng mỗi phút giây bạn đang có trong tay! Và cần phải trân trọng nó hơn nữa khi bạn sẻ chia thời gian với một ai đó đặc biệt, đặc biệt đến mức bạn phải dành thời gian của mình cho người ấy.</span></p>
<p style="text-align: left;"> <a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2017/01/mb.jpg"><br />
</a><a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2017/01/nc.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-1591" title="nc" src="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2017/01/nc.jpg" alt="" width="259" height="194" /></a></p>
<p style="text-align: left;"><span style="font-size: 16px; color: #800000;">Hãy nhớ rằng thời gian thì không chờ đợi ai cả.</span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #800000;"><em> Ngày hôm qua là quá khứ<br />
Ngày mai là một điều bí ẩn<br />
Còn hôm nay là một món quà<br />
Chính vì vậy mà người ta vẫn gọi<br />
Hiện tại là món quà của cuộc sống!</em></span></p>
<p><span style="color: #800000;">                                                                                                                                                                           Sưu tầm      -TLCT-</span></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://thanhlongcotu.com/?feed=rss2&#038;p=1514</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>VĂN HỌC</title>
		<link>https://thanhlongcotu.com/?p=1079</link>
		<comments>https://thanhlongcotu.com/?p=1079#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 01 Feb 2016 10:10:18 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Thanh Long Cổ Tự</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tài liệu]]></category>
		<category><![CDATA[Văn Học]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thanhlongcotu.net/?p=1079</guid>
		<description><![CDATA[&#160; Nguồn gốc và ý nghĩa nhân văn của Tết Nguyên đán (PGVN) Tết Nguyên Đán là lễ hội lớn nhất trong các lễ hội truyền thống của Việt Nam, là điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới, giữa một chu kỳ vận hành của đất trời, vạn vật cỏ cây Tết Nguyên [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&nbsp;</p>
<h1><a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2016/01/tet-ng.dan_.jpg"><img class="aligncenter" title="tet ng.dan" src="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2016/01/tet-ng.dan_.jpg" alt="" width="275" height="183" /></a></h1>
<h1>Nguồn gốc và ý nghĩa nhân văn của Tết Nguyên đán</h1>
<p><strong><em>(PGVN)</em></strong></p>
<h2>Tết Nguyên Đán là lễ hội lớn nhất trong các lễ hội truyền thống của Việt Nam, là điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới, giữa một chu kỳ vận hành của đất trời, vạn vật cỏ cây</h2>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"><a href="http://phatgiao.org.vn/van-de-quan-tam/201401/Tet-Ta-tet-Tay-Tet-cua-ai-day-9467/"><span style="color: #003300;">Tết Nguyên Đán Việt Nam</span></a> có ý nhĩa nhân văn vô cùng sâu sắc, thể hiện sự trường tồn cuộc sống, khao khát của con người về sự hài hòa Thiên &#8211; Địa &#8211; Nhân.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;">Tết Nguyên Đán là sự biểu hiện của mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên trong tinh thần văn hóa nông nghiệp; với gia tộc và xóm làng trong tính cộng đồng dân tộc; với niềm tin thiêng liêng, cao cả trong đời sống tâm linh&#8230;</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"><strong>* Tết Nguyên Đán</strong><strong> </strong></span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"> </span><span style="color: #003300; font-size: 16px;">Tết Nguyên Đán (hay còn gọi là Tết Cả, Tết Ta, Tết Âm lịch, Tết Cổ truyền, Tết năm mới hay chỉ đơn giản: Tết) là dịp lễ quan trọng nhất trong văn hóa của người Việt Nam và một số các dân tộc chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc khác. Nguyên nghĩa của chữ &#8220;Tết&#8221; chính là &#8220;tiết&#8221;. Hai chữ &#8220;Nguyên Đán&#8221; có gốc chữ Hán; &#8220;nguyên&#8221; có nghĩa là sự khởi đầu hay sơ khai và &#8220;đán&#8221; là buổi sáng sớm. Cho nên đọc đúng phiên âm phải là &#8220;Tiết Nguyên Đán&#8221; (Tết Nguyên Đán được người Trung Quốc ngày nay gọi là Xuân tiết, Tân niên hoặc Nông lịch tân niên).</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"> </span><span style="color: #003300; font-size: 16px;">Do cách tính của Âm lịch ViệtNamcó khác với Trung Quốc cho nên Tết Nguyên Đán của người ViệtNamkhông hoàn toàn trùng với Tết của người Trung Quốc và các nước chịu ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Quốc khác.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"> Vì Âm lịch là lịch theo chu kỳ vận hành của mặt trăng nên Tết Nguyên Đán muộn hơn Tết Dương lịch. Do quy luật 3 năm nhuận một tháng của Âm lịch nên ngày đầu năm của dịp Tết Nguyên Đán không bao giờ trước ngày 21 tháng 1 Dương lịch và sau ngày 19 tháng 2 Dương lịch mà thường rơi vào khoảng cuối tháng 1 đến giữa tháng 2 Dương lịch. Toàn bộ dịp Tết Nguyên Đán hàng năm thường kéo dài trong khoảng 7 đến 8 ngày cuối năm cũ và 7 ngày đầu năm mới (23 tháng Chạp đến hết ngày 7 tháng Giêng).</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"><strong> *</strong></span><strong style="color: #003300; font-size: 16px;"> Nguồn gốc Tết Nguyên Đán </strong></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"> </span><span style="color: #003300; font-size: 16px;">Theo lịch sử Trung Quốc, nguồn gốc Tết Nguyên Đán có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế và thay đổi theo từng thời kỳ. Đời Tam Vương, nhà Hạ chuộng màu đen nên chọn tháng giêng, tức tháng Dần. Nhà Thương thích màu trắng nên lấy tháng Sửu, tức tháng chạp, làm tháng đầu năm. Nhà Chu ưa sắc đỏ nên chọn tháng Tý, tức tháng mười một, làm tháng Tết. Các vua chúa nói trên quan niệm về ngày giờ &#8220;tạo thiên lập địa&#8221; như sau: giờ Tý thì có trời, giờ Sửu thì có đất, giờ Dần sinh loài người nên đặt ra ngày Tết khác nhau.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"> </span><span style="color: #003300; font-size: 16px;">Đời ĐôngChu, Khổng Tử đổi ngày Tết vào một tháng nhất định là tháng Dần. Đời nhà Tần (thế kỷ 3 TCN), Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi, tức tháng mười. Đến thời nhà Hán, Hán Vũ Đế (140 TCN) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần, tức tháng giêng. Từ đó về sau, không còn triều đại nào thay đổi về tháng Tết nữa.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"> </span><span style="color: #003300; font-size: 16px;">Đến đời Đông Phương Sóc, ông cho rằng ngày tạo thiên lập địa có thêm giống gà, ngày thứ hai có thêm chó, ngày thứ ba có thêm lợn, ngày thứ tư sinh dê, ngày thứ năm sinh trâu, ngày thứ sáu sinh ngựa, ngày thứ bảy sinh loài người và ngày thứ tám mới sinh ra ngũ cốc.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"> </span><span style="color: #003300; font-size: 16px;">Vì thế, ngày Tết thường được kể từ ngày mồng một cho đến hết ngày mồng bảy.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"> *</span><strong style="color: #003300; font-size: 16px;"> Ý nghĩa nhân văn của Tết Nguyên Đán Việt Nam</strong></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"> *</span><strong style="color: #003300; font-size: 16px;"> <em>Tết Nguyên Đán biểu hiện sự giao cảm giữa trời đất và con người với thần linh</em></strong></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"><em> </em></span><span style="color: #003300; font-size: 16px;">Xét ở góc độ mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Tết &#8211; do tiết (thời tiết) thuận theo sự vận hành của vũ trụ, biểu hiện ở sự chu chuyển lần lượt các mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông &#8211; có một ý nghĩa đặc biệt đối với một xã hội mà nền kinh tế vẫn còn dựa vào nông nghiệp làm chính.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;">Theo tín ngưỡng dân gian bắt nguồn từ quan niệm &#8220;Ơn trời mưa nắng phải thì&#8221;, người nông dân còn cho đây là dịp để tưởng nhớ đến các vị thần linh có liên quan đến sự được, mất của mùa màng như thần Đất, thần Mưa, thần Sấm, thần Nước, thần Mặt trời&#8230; người nông dân cũng không quên ơn những loài vật, cây cối đã giúp đỡ, nuôi sống họ, từ hạt lúa đến trâu bò, gia súc, gia cầm trong những ngày này.</span></p>
<p><a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2016/02/images-4.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-1126" title="images (4)" src="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2016/02/images-4.jpg" alt="" width="275" height="183" /></a></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"><strong>* <em>Tết Nguyên Đán là ngày đoàn viên của mọi gia đình</em></strong></span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #003300;"> Người Việt Nam có tục hằng năm mỗi khi Tết đến, dù làm bất cứ nghề gì, ở bất cứ nơi đâu đều mong được trở về sum họp dưới mái ấm gia đình trong 3 ngày Tết, được khấn vái trước bàn thờ tổ tiên, thăm lại ngôi nhà thờ, ngôi mộ, giếng nước, mảnh sân nhà,&#8230; được sống lại với những kỷ niệm đầy ắp yêu thương của tuổi thơ yêu dấu. &#8220;Về quê ăn Tết&#8221;, đó không phải là một khái niệm thông thường đi hay về, mà là một cuộc hành hương về với cội nguồn, nơi chôn rau cắt rốn.</span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #003300;"> Theo quan niệm của người Việt Nam, ngày Tết đầu xuân là ngày đoàn tụ, đoàn viên, mối quan hệ họ hàng làng xóm được mở rộng ra, ràng buộc lẫn nhau thành đạo lý chung cho cả xã hội: tình cảm gia đình, tình cảm thầy trò, bệnh nhân với thầy thuốc, ông mai bà mối đã từng tác thành đôi lứa, bè bạn cố tri&#8230;</span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #003300;"> Tết cũng là ngày đoàn tụ với cả những người đã mất. Từ bữa cơm tối đêm 30, trước giao thừa, các gia đình đã thắp hương mời hương linh ông bà và tổ tiên và những người thân đã qua đời về ăn cơm, vui Tết với con cháu (cúng gia tiên). Trong mỗi gia đình ViệtNam, bàn thờ gia tiên có một  vị trí rất quan trọng. Bàn thờ gia tiên ngày Tết là sự thể hiện lòng tưởng nhớ, kính trọng của người Việt đối với tổ tiên, người thân đã khuất với những mâm ngũ quả được lựa chọn kỹ lưỡng; mâm cỗ với nhiều món ngon hay những món ăn quen thuộc của người đã mất.</span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #003300;"> Từ đây cho đến hết Tết, khói hương trên bàn thờ gia tiên quyện với không khí thiêng liêng của sự giao hòa vũ trụ làm cho con người trở nên gắn bó với gia đình của mình hơn bao giờ hết. Để sau Tết Nguyên Đán, cuộc sống lại bắt đầu một chu trình mới của một năm. Mọi người trở về với công việc thường nhật của mình, mang theo những tình cảm gia đình đầm ấm có được trong những ngày Tết để hướng đến những niềm vui trong cuộc sống và những thành công mới trong tương lai.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"><strong>* <em>Tết Nguyên Đán là ngày ” làm mới”</em></strong></span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #003300;"> Tết là ngày đầu tiên trong năm mới, mọi người có cơ hội ngồi ôn lại việc cũ và “làm mới” mọi việc. Việc làm mới có thể được bắt đầu về hình thức như dọn dẹp, quét vôi, sơn sửa trang trí lại nhà cửa. Sàn nhà được chùi rửa, chân nến và lư hương được đánh bóng. Bàn ghế tủ giường được lau chùi sạch sẻ.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;">Người lớn cũng như trẻ con đều tắm rửa và mặc quần áo mới. Đây cũng là dịp mọi người làm mới lại về phần tình cảm và tinh thần để mối liên hệ với người thân được gắn bó hơn, tinh thần thoải mái, tươi vui hơn&#8230; Bao nhiêu mối nợ nần đều được thanh toán trước khi bước qua năm mới. Với mỗi người, những buồn phiền, cãi vã được dẹp qua một bên. Tối thiểu ba ngày Tết, mọi người cười hòa với nhau, nói năng từ tốn, lịch sự để mong suốt năm sắp tới mối quan hệ được tốt đẹp.</span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #003300;"> Người ViệtNam tin rằng những ngày Tết vui vẻ đầu năm báo hiệu một năm mới tốt đẹp sẽ tới. Năm cũ đi qua mang theo những điều không may mắn và năm mới bắt đầu mang đến cho mọi người niềm tin lạc quan vào cuộc sống. Nếu năm cũ khá may mắn, thì sự may mắn sẽ kéo dài qua năm sau.Với ý nghĩa này, Tết còn là ngày của lạc quan và hy vọng.</span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #003300;"> Tết là sinh nhật của tất cả mọi người, ai cũng thêm một tuổi vì thế câu nói mở miệng khi gặp nhau là mừng nhau thêm một tuổi. Người lớn có tục mừng tuổi cho trẻ nhỏ và các cụ già để chúc các cháu hay ăn chóng lớn và ngoan ngoãn, học giỏi; còn các cụ thì sống lâu và mạnh khoẻ để con cháu được báo hiếu và hưởng ân phúc.</span></p>
<p><a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2016/02/images-5.jpg"><img class="aligncenter size-full wp-image-1128" title="images (5)" src="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2016/02/images-5.jpg" alt="" width="275" height="183" /></a></p>
<p><span style="font-size: 18px;"><strong><em>* Tết Nguyên Đán là ngày tạ ơn</em></strong></span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;">Người Việt chọn ngày Tết làm cơ hội để tạ ơn. Con cái tạ ơn cha mẹ, cha mẹ tạ ơn ông bà, tổ tiên, nhân viên tạ ơn cấp chỉ huy. Ngược lại, lãnh đạo cũng cảm ơn nhân viên qua những buổi tiệc chiêu đãi hoặc quà thưởng để ăn Tết&#8230;</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;">. <em>Những biến đổi do tác động tiếp xúc văn hoá Đông &#8211; Tây trong Tết Nguyên Đán ở Việt Nam</em></span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #003300;"> Với một hệ thống lễ nghi vô cùng phong phú và giàu ý nghĩa nhân văn sâu sắc, tết Nguyên Đán đã trở thành ý thức hệ dân tộc, thể hiện bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam. Tết Nguyên Đán là một phong tục đẹp mà nhân dân ta còn duy trì tới ngày nay. Thế nhưng trong thời kỳ toàn cầu hoá như hiện nay cách ăn Tết của người ViệtNam phần nào đã thay đổi. Một số tập tục trong ngày Tết xưa không còn phù hợp với xã hội hiện đại đã dần bị loại bỏ.</span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #003300;"> Ngày nay người dân ăn Tết đã có phần đổi khác hơn so với trước kia, dường như dân ta ăn Tết  “tây hoá”dần đi, sự thay đổi đó phần nào được thể hiện qua cách đón tết và trong việc sắm tết.</span><br />
<span style="font-size: 16px; color: #003300;"> Đời sống kinh tế được nâng cao đi kèm với những giá trị hưởng thụ về văn hoá tinh thần và vật chất, nhu cầu ăn ngon mặc đẹp là tự nhiên và có thể đáp ứng ngay khi cần chứ không phải đợi đến Tết như ngày xưa. Hơn nữa, ngày nay trong một năm có rất nhiều ngày lễ khác đang chi phối tầm quan trọng của ngày Tết cổ truyền. Vì vậy, dường như Tết bây giờ có phần nhạt hơn so với Tết xưa.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;">Trong đời sống hiện đại, việc sắm Tết cũng ”hiện đại” theo và sự ảnh hưởng văn hóa phương Tây rất rõ nét. Giờ đây người dân ít hào hứng với việc mua thực phẩm về tự chế biến mà đặt mua đồ đã chế biến sẵn cho tiện. Mâm cỗ ngày Tết giờ cũng phong phú hơn và đa dạng hơn. Bên cạnh những món ăn truyền thống của người Việt như bánh chưng xanh, giò, các món rau, món xào thì còn có những món ăn được du nhập từ Phương Tây.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"> </span><span style="color: #003300; font-size: 16px;">Trải qua bao biến thiên của thời đại, đến nay, quan niệm về Tết đã có nhiều thay đổi cả về mặt khái niệm lẫn hành vi. Bây giờ người ta quan niệm là “nghỉ Tết”, “chơi Tết” chứ không còn là “ăn Tết”. Khi cái ăn, cái mặc không còn là vấn đề quan trọng trong ngày Tết thì người ta hướng đến tinh thần nhiều hơn. Tết hiện đại mọi người thích nghỉ ngơi thoải mái, đi chơi nhiều hơn, nhân dịp Tết nhiều gia đình đã lên lịch trình cho một chuyến du lịch với người thân trong nhà hoặc cùng bạn bè, đồng nghiệp.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"> </span><span style="color: #003300; font-size: 16px;">Quà Tết bây giờ cũng khác. Trước đây, mọi người có thể chúc Tết nhau bằng cặp bánh, cân giò, với tấm lòng trân trọng mến thương. Bây giờ người ta có thể tặng nhau những món quà có giá trị cao nhưng tình cảm trong đó hầu như không có mà xen vào đó là lợi ích cá nhân, lợi ích kinh tế.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"> </span><span style="color: #003300; font-size: 16px;">Quả thật, quá trình tiếp xúc văn hoá Đông – Tây đã làm cho Tết thay đổi, những đồ ăn nhanh, làm sẵn đã làm mất đi không khí chuẩn bị vui tươi của ngày tết. Trẻ con không còn ngồi xem bố mẹ, ông bà gói bánh chưng và mong chờ còn ít gạo vét để gói chiếc bánh ống với nhiều đậu và một miếng thịt to, không còn vui thú khi vùi củ khoai nướng trong lúc trông nồi bánh chưng, các cô thiếu nữ đã dần quên thói quen đi ngắm hoa đào, hoa mai trên phố chợ. Những điều thay đổi đó khiến nhiều người không khỏi chạnh lòng “bao giờ cho đến Tết xưa”.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"> </span><span style="color: #003300; font-size: 16px;">Tuy nhiên, tiếp xúc với văn hóa phương Tây đã làm cho ngày Tết của người Việt có nhiều thứ mới lạ hơn, thực phẩm vừa ngon vừa phong phú đa dạng, những đồ ăn sẵn thật là thuận tiện, mâm cỗ cúng gia tiên có thêm chai rượu vang thì thật là sang trọng. Ngày Tết được đi du lịch với cả gia đình, bạn bè, đồng nghiệp khiến mọi người cảm thấy nhẹ nhõm, gạt bỏ được những căng thẳng trong một năm làm việc vất vả, tìm được sự bình yên, thư thái trong tâm hồn.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"> </span><span style="color: #003300; font-size: 16px;">Chúng ta không thể phủ nhận mặt tích cực của hội nhập văn hoá đem lại. Nếu chúng ta “khép” cửa “ăn Tết” với nhau thì Tết Việt đương nhiên chỉ là một sản phẩm của văn hoá thuần tuý đơn lẻ, nó sẽ không thể trở thành sản phẩm văn hoá đặc trưng của quốc gia trong mối quan tâm của bạn bè quốc tế. Sự mở cửa giao lưu, tiếp xúc lại chính là những phương thức tốt nhất giúp chúng ta giới thiệu đến bạn bè quốc tế về Tết cổ truyền của người ViệtNam. Vấn đề ở đây là chúng ta phải làm chủ được quá trình tiếp xúc với văn hóa phương Tây để tết cổ truyền của người Việt vẫn giữ được bản sắc riêng của mình mà không bị “ Tây hoá”.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"> </span><span style="color: #003300; font-size: 16px;">Có thể nói, Tết Nguyên Đán vẫn là một sinh hoạt văn hoá vừa lưu giữ những giá trị truyền thống vừa thích nghi với nhịp sống hiện đại. Trong ngày Tết vẫn còn nhiều phong tục tốt đẹp và đậm tính nhân văn mà chúng ta cần giữ gìn và phát huy để Tết Nguyên Đán mãi là nét văn hoá đặc sắc của dân tộc Việt Nam.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"><strong>Th.S Hoàng Thị Tố Nga</strong> - Khoa SP Tiểu học &#8211; Mầm non</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;">TÀI LIỆU THAM KHẢO</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;"> </span><span style="color: #003300; font-size: 16px;">1. Đào Duy Anh. ViệtNamvăn hóa sử cương, NXB Tp. Hồ Chí Minh, 1992.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;">2. Đinh Gia Khánh. Văn hóa dân gian ViệtNamtrong bối cảnh văn hóa Đông Nam Á, NXB KHXH, 1993.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;">3. Phan Kế Bính. ViệtNamphong tục, NXB Tp. Hồ Chí Minh, 1992.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;">4.Trần Ngọc Thêm. Cơ sở văn hóa ViệtNam, NXB GD</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;">5. Trần Ngọc Thêm. Tìm về bản sắc văn hóa ViệtNam: Cái nhìn hệ thống &#8211; loại hình, NXB Tp. Hồ Chí Minh, 1996.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #003300;">6. Trương Thìn (biên soạn). 101 điều cần biết về tín ngưỡng và phong tục ViệtNam,  NXB Thời đại, 2010.</span></p>
<p><strong> </strong><a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2016/01/tet-ng.dan_.jpg"><br />
</a></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://thanhlongcotu.com/?feed=rss2&#038;p=1079</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>VĂN HỌC</title>
		<link>https://thanhlongcotu.com/?p=774</link>
		<comments>https://thanhlongcotu.com/?p=774#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 16 Jul 2014 03:39:17 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Thanh Long Cổ Tự</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tài liệu]]></category>
		<category><![CDATA[Văn Học]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://thanhlongcotu.net/?p=774</guid>
		<description><![CDATA[&#160; Lược Khảo về Sự Tích và Ý Nghĩa Lễ Vu Lan Nguyễn Phúc Bửu Tập   Mỗi năm, sau lễ Phật đản, người Việt Nam thiết lễ Rằm Tháng Bảy rất lớn, còn gọi là lễ Xá tội vong nhân theo câu ca dao &#8220;Tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân.&#8221; Phật giáo [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p>&nbsp;</p>
<h2 align="center"><span style="font-size: 16px; color: #993300;">Lược Khảo về Sự Tích và Ý Nghĩa Lễ Vu Lan</span></h2>
<h3 align="center"><span style="font-size: 16px;"><em>Nguyễn Phúc Bửu Tập</em></span></h3>
<div align="center">
<hr align="center" size="2" width="25%" />
</div>
<p><span style="font-size: 16px;"> <a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2014/07/d.hoa_.jpg"><img class="alignleft size-full wp-image-778" title="d.hoa" src="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2014/07/d.hoa_.jpg" alt="" width="276" height="183" /></a><a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2014/07/dangle.jpg"><br />
</a></span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Mỗi năm, sau lễ Phật đản, người Việt Nam thiết lễ Rằm Tháng Bảy rất lớn, còn gọi là lễ Xá tội vong nhân theo câu ca dao &#8220;Tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân.&#8221; Phật giáo Bắc Tông (Ðại Thừa) thiết lễ Vu Lan; lễ này không thấy trong tập tục Nam Tông. Bài này tìm hiểu sự tích lễ Vu Lan, khởi thủy tại Ấn Ðộ. Lễ Vu Lan theo đạo Phật vào Trung Hoa, đã trở thành một ngày hội lớn từ thành thị đến thôn quê. Tại Ðại Hàn, Ðài Loan và ViệtNam, cho đến bây giờ hàng năm dân chúng không quên ngày Rằm Tháng Bảy. Riêng tại Nhật Bản là nơi các tập tục Phật giáo, cho tới cuối thế kỷ Hai mươi vẫn còn giữ nguyên vẹn truyền thống, lễ Vu Lan được tổ chức rất trọng thể. Kéo dài bốn ngày, bắt đầu ngày mười ba, mãn ngày mười sáu tháng Bảy. Chúng ta sẽ khảo sát các chi tiết của ngày lễ Phật đẹp đẽ này. Chúng ta cũng sẽ tìm cách giải thích nguyên do của buổi lễ tôn giáo đại chúng này trong phần sau bài.</span><br />
<a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2014/07/dangle.jpg"><img title="dangle" src="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2014/07/dangle.jpg" alt="" width="288" height="169" /></a></p>
<h3><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Lễ Bon Vu Lan tại Ấn Ðộ.</span></h3>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Vì sao có lễ Bon Vu Lan? Trước khi Thích Ca khai sáng ra đạo Phật, người Ấn đã thiết lễ Bon, mà người Phật Bắc tông Ðông Á và Ðông Nam Á gọi là lễ Vu Lan. Ðạo Bà La Môn ở Ấn Ðộ tin rằng người chết có nhiều ràng buộc với người đang sống, và bổn phận người sống là phải thờ cúng người đã khuất núi. Vì lẽ đó mà đạo dạy là những kẻ vô thừa tự không sinh con cái nối dõi để tiếp tục thờ cúng tổ tiên, sẽ bị phạt tội rất nặng, bị đày xuống địa ngục. Ngày trước, ở Ấn Ðộ, người Bà La Môn đến tuổi trưởng thành phải đi tu học các nghi lễ cúng tế để phục vụ cộng đồng. Nhưng qua thời kỳ thụ huấn, y phải trở lại gia đình, lấy vợ, sinh con nối dõi. Y phải có con thừa tự, để đến lúc chết khỏi bị đọa đày ở địa ngục.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Lúc Thích Ca dựng lên đạo Phật, tông đồ của ngài đã từng sống trong niềm tin Bà La Môn. Những người từ bỏ gia đình để đi tu theo tăng đoàn phải có một cách để tự thuyết phục đi tu theo đạo Thích Ca không phạm tội vô thừa tự, vì tổ tiên sẽ được cứu rỗi bằng lễ Vu Lan.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;"><strong>Ðịnh nghĩa từ Vu-lan:</strong> Cho đến bây giờ các học giả đạo Phật đều thỏa thuận là chữ &#8220;vu-lan-bồn,&#8221; phiên âm từ chữ &#8220;ura-bon-e,&#8221; xuất xứ từ tiếng Phạn Sanskrit &#8220;ullambana,&#8221; một hình thức đọc gọn chữ &#8220;avalambana,&#8221; có nghĩa là treo ngược. Tiếng Trung Hoa dịch nghiã là &#8220;đảo huyền,&#8221; treo ngược chân lên trời, đầu xuống đất, là một hình phạt vô cùng tàn khốc áp dụng cho các tội đồ. Người Trung Hoa phiên âm từ &#8220;ura-bon-e&#8221; thành từ &#8220;vu-lan-bồn,&#8221; nói tắt là &#8220;vu-lan.&#8221; Lễ Vu Lan trở thành một chức năng của tập tục thờ cúng tổ tiên, rất quan trọng trong nền văn minh của Trung Hoa và các nước lân cận chịu ảnh hưởng văn minh Trung Hoa.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Học giả người Nhật Bunyu Matsuda sưu khảo trong đại tập Huyền Anh Diễn Nghĩa là một bộ kinh Phật gồm 25 tập, 449 quyển của đại sư Huyền Anh sống dưới đời Tùy, phiên âm và diễn dịch tất cả từ ngữ trong kinh điển nhà Phật từ tiếng Ấn Ðộ sang tiếng Trung Hoa. Trong tập số 13, chữ vu lan bồn được phiên âm và giải thích cặn kẽ. Ðại sư Huyền Anh viết: <em>từ ura-bon mà ta dịch là vu lan bồn là một hình thức phiên âm sai lạc; phải viết đúng là ullambana mới có nghĩa là &#8220;đảo huyền.&#8221; </em></span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Lại nữa, vào đời Thịnh Ðường, ở phủ Khai Phong, đại sư Tông Mật lại đưa ra một nhận định khác, khi ông viết phần Luận của cuốn Vu Lan Bồn Kinh. Ông viết: <em>ullam không hẳn là tiếng Phạn, từ này gốc ở Trung bộ Á châu, nơi đạo Phật theo con đường Lụa hoằng dương vào Trung Hoa</em>. Chữ ullam có thể hiểu và dịch là đảo huyền, nhưng chữ bana phiên dịch ra Hán ngữ là bồn, phải hiểu là một con thuyền hay một tấm ván, tấm bè làm khay, một cái chậu đựng thức ăn. Vậy toàn bộ chữ ullambana dịch sang Hán ngữ, phải được hiểu là &#8220;cứu giúp một con thuyền bị lật ngược, hay là quay lại cho ngay một tấm bè hay một cái khay, một cái chậu, bị lật ngược.&#8221; Ðại sư Tông Mật giải thích là ngay trong bản kinh Ullamba Sutra (Vu-lan-bồn Kinh) cũng có đoạn nói đến cái khay. Ðức Phật dạy muốn báo hiếu chuộc tội cho cha mẹ, phải thành tâm &#8220;dâng đầy khay thức uống và hương hoa phẩm vật&#8221; cho các bậc tôn trưởng cầu xin họ giúp lời cầu nguyện.</span></p>
<p><a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2014/07/mkl1.jpg"><img class="alignleft size-full wp-image-779" title="mkl" src="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2014/07/mkl1.jpg" alt="" width="193" height="261" /></a></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Ý kiến phân giải của đại sư Tông Mật được đại sư Ðạo Thế là người trước tác bộ Pháp Uyển Châu Lâm yểm trợ. Tác phẩm này dày 100 cuốn, là một công trình hệ thống hóa hai mục Kinh và Luận trong Tam tạng kinh điển nhà Phật. Trong phần trích dịch Kinh Ullambana Sutra cũng có đoạn nói tới lời đức Phật dạy phải dâng &#8220;đầy khay&#8221; hương hoa quả phẩm cho tăng chúng để xin giúp lời cầu nguyện cho tổ tiên được siêu thoát.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Học giả Bunyu Matsuda còn dẫn thêm là tài liệu trong bốn cuốn kinh khác, &#8220;Vu-lan-bồn Kinh sớ, Vu-lan-bồn Kinh sớ hiếu hành châm, Thích Thị yếu lãm và Fan-i-ming i-chi (?)&#8221;, để yểm trợ lời giải thích của Tông Mật. Công trình nghiên cứu bác học của thế hệ mới, đặc biệt là trường Nhật bản sung túc phương tiện trí óc và nhu cụ làm cho ta phấn khởi về tương lai của một nền Phật học hàn lâm. Tuy nhiên nếu đọc thật kỹ tài liệu trình bày hai ý kiến của hai vị đại sư Huyền Anh và Tông Mật cùng giải thích từ ngữ &#8220;vu lan bồn,&#8221; ta có thể kết luận không sợ sai lạc nhiều là hai ý kiến có vẻ không tương phản, mà còn hỗ trợ nhau. Người học Phật bước đầu nghiêng về phía giản tiện, hãy dùng chữ &#8220;Vu Lan&#8221; để gọi ngày lễ &#8220;Rằm Tháng Bảy.&#8221;</span></p>
<h3><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Lễ Vu Lan qua Kinh Phật Ullambana Sutra và một số kinh .</span></h3>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Mandgalyayana (viết theo Sanskrit; Moggallana, Pali; tiếng Hán phiên là Mục Kiện Liên, đọc tắt là Mục Liên, còn gọi là Ðại Mục Kiện Liên) là một nhân vật lịch sử, sống cùng thời với đức Phật. Ông ta là một vị giáo chủ có năm trăm đệ tử, xin quy y theo đức Phật, và được đức Phật xem là người đệ tử &#8220;thần thông bậc nhất.&#8221; Kinh chép khi đắc đạo, trở thành la-hán, ông phóng nhãn quan xuống địa ngục tìm mẹ, thấy mẹ bị đọa đày vì kiếp trước bà mẹ làm lắm điều bất thiện. Ông lấy bình bát của ông đựng đầy cơm dâng mẹ. Bà mẹ cầm lấy ăn, tức thời cơm hóa ra lửa hồng tuôn vào mồm bà mẹ. Ông đau đớn đến trình đức Phật, được dạy là bà mẹ của ông kiếp trước nặng dày nghiệp chướng, phải chờ đến ngày Rằm Tháng Bảy, thiết đại lễ thỉnh đức Phật và tăng giới mười phương đến góp lời cầu nguyện và phù trợ mới có thể giúp mẹ ông giải tội. Ông hỏi lại đức Phật là nếu trong đại chúng ai có lòng hiếu thảo muốn chuộc tội cho cha mẹ có thể thiết lễ xin giải tội cho cha mẹ như ông được chăng. Ðức Phật phán rõ: &#8220;Mỗi năm, vào ngày Rằm Tháng Bảy, người con Phật phải tưởng nhớ cha mẹ tổ tiên  tìm cách đền công ơn dưỡng dục  bằng cách thiết lễ, lập đàn cầu nguyện chư Phật và chư tăng ra ơn cứu độ,&#8221; thì cha mẹ tổ tiên được cơ hội xóa bỏ bớt tội lỗi từ muôn kiếp trước.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Ông Mandgalyayana làm đúng theo lời Phật dạy, và bà mẹ của ông được siêu thoát. Tăng đoàn và tín đồ Phật giáo noi theo gương ông và từ đó lễ Bon Vu Lan trở thành một lễ Phật.</span></p>
<p><a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2014/07/mklien1.jpg"><img class="alignleft size-full wp-image-781" title="mklien" src="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2014/07/mklien1.jpg" alt="" width="225" height="225" /></a></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Kinh điển nhà Phật, ngoài bộ kinh Ullambana Sutra, còn nhiều bộ kinh khác giải thích lễ Bon Vu Lan trong thời kỳ Phật giáo hưng thịnh tại Ấn Ðộ. Theo một số người học Phật, Kinh Mahapari nirvana Sutra, (Kinh Ðại Niết bàn), Quyển 16, kể chuyện đức Phật lúc đi truyền giáo có lần gặp một bộ lạc sống bằng cách giết người ăn thịt. Bộ lạc này được đức Phật cải quy và họ theo Phật quy y, nhưng họ không quen làm việc chăn nuôi, trồng trọt nên sống rất đói khổ. Ðức Phật răn dạy đệ tử trong vùng phải bố thí thực phẩm giúp đỡ họ. Lâu dần thành ra tập tục cúng lễ Bon Vu Lan.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Một cách giải thích khác lễ Bon Vu Lan là ông A Nan Ðà, người cháu và người đệ tử trung kiên nhất của đức Phật. Ông A Nan Ðà thường tiếp xúc với một ngạ qủy đói khát, bị phạt nuốt than lửa trong miệng, nên mỗi khi xin được thực phẩm trong bình bát, ông đem thực phẩm chia cho quỷ đói. Người đời sau bắt chước phép hành thiện của ông A Nan Ðà mà có lễ Bon Vu Lan.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Một nguyên nhân khác nữa giải thích lễ Bon Vu Lan tại Ấn Ðộ lấy dẫn chứng trong bổn Luật kinh Vinaya của trường Sarvastivada (Nhất thiết hữu bộ). Kinh ghi rõ lời dạy của đức Phật cho tì kheo đương thời là mỗi khi đi xin thực phẩm trở về chùa phải để dành một bát đầy thực phẩm cúng cho loại vong hồn Hariti. Hariti là một con quỷ cái chuyên giết người hút máu, bị kẻ thù rượt chém nên đánh lạc đứa con trai. Ðức Phật cứu đứa bé, dấu vào áo và đem trả cho người mẹ. Harati cảm kích, lại được Phật cảm hóa, bèn xin quy y, xin bỏ lệ giết hại người và xin chịu đói khát để đền tội. Phật dạy phải lấy lòng từ bi cấp dưỡng, và do đó có lệ Bon Vu Lan.</span></p>
<h3><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Lễ Vu Lan tại Trung Hoa</span></h3>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Phật giáo Ðại thừa ở Trung Hoa bắt đầu thiết lễ Vu Lan dưới thời Nam Bắc triều vào thế kỷ thứ Sáu. Tài liệu cũ nhất tìm thấy trong Phật Tổ thống chí ghi là lễ được thiết vào ngày Rằm Tháng Bảy năm 538 TL. Vua Vũ đế nhà Lương đến lễ Phật tại Ðông Ðài Tự và dâng lễ Vu Lan. Nhưng lễ Vu Lan ngày đó chỉ dành cho vua chúa và qúy tộc thiết lễ trong các ngôi chùa lớn, chưa phải là một dịp hội hè của dân gian. Phải chờ đến hai trăm năm sau, dưới triều Ðường Thái Tôn mới thấy trong Thích Thị ký cổ lược ghi rõ ngày lễ Vu Lan, tháng Bảy năm 766 TL, được thiết trong triều có lễ rước Kiệu Phật vào cung đình, và sau đó đem trưng bày Xá lợi tại Quảng An Môn cho dân chúng chiêm ngưỡng. Từ ngày đó lễ Vu Lan mới thành ra một ngày lễ cho đại chúng tham gia. Ðồng thời, ý nghiã của ngày Vu Lan cũng thay đổi như ta sẽ thấy ở sau.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Khoảng giữa thế kỷ thứ Tám, vào đời Ðường, có một vị pháp sư Ấn Ðộ tên là Amoghavajra, tinh thông giáo lý nhà Phật, muốn đạo Phật tập quán nhiều hơn vào truyền thống xã hội Trung Hoa tôn trọng việc thờ cúng tổ tiên, nên thay đổi ý nghĩa của ngày Vu Lan, làm thành ngày lễ hướng về tất cả vong hồn những người đã chết vì loạn lạc, chiến tranh, chết không có con cái thờ tự, chết vì nghèo đói; danh từ Phật gọi chung là ngạ quỷ. Cũng vào thời kỳ này gọi là Thịnh Ðường, đạo Phật trở nên cực kỳ hưng thịnh, cho nên cách thiết lễ Vu Lan cũng đổi thay. Ðến rằm tháng Bảy, trong mọi gia cư và tại chùa, dân gian xây đàn, làm chay để cúng vong hồn; đồng thời ngoài cộng đồng, nơi các chùa lớn lại có tục lệ tổ chức chưng bày các bảo vật thờ tự đức Phật, như là di tích của đức Phật (ví dụ, Xá lợi là di vật nhục thân của đức Phật đựng trong bình đá, bình ngọc) đem từ Ấn Ðộ sang, hoặc là các bổn kinh chép bằng chữ Sanskrist hay Pali, khắc trên đá, đẽo trên gỗ, chép trên lá cót, lá gồi&#8230;) cho dân chúng được phép chiêm ngưỡng. Ðồng thời nhà chùa lại khuyến khích các gia đình giàu có tham gia cuộc triển lãm bằng cách chưng bày các của riêng trân châu dị bảo cho khách thập phương từ xa đến thưởng ngoạn. Khách đi xem trong tỉnh, ngoài tỉnh đến dựng lều ở trên đất chùa, và tổ chức các buổi ca vũ, hát tuồng, thi đua tranh tài võ nghệ, thi đua khoe tài nấu nướng các món chay làm lễ cúng Phật và thết đãi người đồng đạo. Từ đó mà có ý nghĩa thiêng liêng &#8220;Ðại hội Vu Lan,&#8221; xá tội cho những linh hồn chết bị nghiệp đày đọa và cởi mở cho những linh hồn sống vui tươi, hành thiện.</span></p>
<p><a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2014/07/dang-cung.jpg"><img class="alignleft size-full wp-image-782" title="dang cung" src="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2014/07/dang-cung.jpg" alt="" width="275" height="183" /></a></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Ðại sư Amoghavajra hiểu rõ là đạo Phật từ Ấn Ðộ vào Trung Hoa phải vượt qua cái điều chướng ngại căn bản là truyền thống luân lý Trung Hoa từ lúc mới khai sáng, dựa trên nền tảng hiếu đạo: Nguyên thủy, đạo Phật dạy xuất thế, từ chối gia đình để hướng tới giải thoát nghiệp. Từ chối vợ con tức là chối bỏ cái sứ mệnh nối dõi giòng họ để cúng giỗ; từ chối gia đình tức là bỏ cha mẹ không nuôi dưỡng. Người Trung Hoa khó lòng mà chấp nhận giáo lý nhà Phật chủ trương như vậy.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Ðể giải quyết chướng ngại đó, đạo Phật phải tập quán vào xã hội vĩ đại của Trung Hoa bằng ba phương cách. Thứ nhất là dịch thuật và diễn giải các bộ kinh Phật liên hệ đến chữ hiếu, đã có sẵn rất nhiều trong kinh điển Sanskrist và Pali vừa mới du nhập vào nước Tàu, để chứng minh là giáo lý Phật cũng nặng chữ hiếu không kém truyền thống Trung Hoa. Phương cách thứ hai là thiết lập một số kinh điển mới do các đại sư Ấn Ðộ và Trung Hoa rút ý trong kinh điển nhà Phật viết ra, chú trọng vào hiếu để. Phương cách thứ ba còn siêu việt hơn nữa. Chữ hiếu cổ truyền của người Trung Hoa chỉ giới hạn trong phạm vi gia đình: cha mẹ ông bà. Chữ hiếu của nhà Phật bao gồm người sống và người chết: những người đã chết trong bao nhiêu đời trước (tổ tiên), rộng hơn nữa là những người đã chết cô quả không người cúng tế, và chính ngay những người đang sống vì trả nợ kiếp trước. Chữ hiếu theo quan niệm nhà Phật bỏ cái quan niệm cá nhân và gia đình để bao trùm hoàn vũ, lại còn đi vào chiều sâu thời gian. Ý niệm hiếu để của đạo Phật vượt lên bậc siêu đẳng, đáp ứng với nhu cầu hướng thiện và hướng linh của con người.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Ta thử lược qua kinh điển để dẫn chứng cụ thể những điều nói trên. Ðời Hậu Hán, An Thế Cao (An Shih-Kao) dịch trước tiên hai bộ kinh liên hệ đến chữ hiếu: Kinh Thi-Ca-Việt Lục Phương Lễ, và kinh Phụ Mẫu Ân Nan Báo. Tiếp theo đời Ngũ đại, đại sư Tân Pháp Tư dịch bộ kinh Phật Thuyết Thiện Sinh Tử. Hai bộ kinh căn bản của trường Phật giáo Nguyên thủy là Trường A Hàm và Trung A Hàm, được dịch ra Hán văn từ thế kỷ Bốn và Năm cũng nhắc lại lời dạy của đức Phật về chữ hiếu.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Thế nhưng muốn đề cập đến vấn đề hiếu để trong đạo Phật, ta phải đọc đến hai bộ kinh căn bản là bộ Kinh &#8220;Bồ Tát Thiện Tử&#8221; nói đến một người con có hiếu tên là Thiện Tử và bộ Kinh &#8220;Vu Lan Bồn&#8221; do đại sư Pháp Phong dịch dưới đời Tây Tấn, nói đến sự tích Mục Kiện Liên, một vị đại đệ tử của đức Phật.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Kinh Bồ Tát Thiện Tử do một nhà sư vô danh dịch ra Hán văn dưới đời Tây Tấn, được chùa Trung Hoa xem là bổn kinh, nhưng thật sự là trích ra trong Truyện Tiền Thân của đức Phật (Jataka). Thiện Tử (Sanskrit là Syama; Pali, Sama) là một vị bồ tát đã tình nguyện đầu thai làm con một cặp vợ chồng đui mù đã phát nguyện từ bỏ đời sống phù du nơi thành thị, đến ở một hang núi để tu tập. Ðứa con lớn lên rất có hiếu với cha mẹ và đem cha mẹ vào ở trong một hang núi để thực hiện điều nguyện ước. Một hôm Thiện Tử đội chiếc áo da nai xuống suối lấy nước. Nhà vua đi săn qua đó, tưởng lầm là thú, bắn mũi tên độc vào chàng trai. Thiện Tử nằm chờ chết, không oán hận nhà vua, cho là mình chết vì nghiệp, nhưng tiếc thương vì còn cha mẹ già không ai nuôi dưỡng. Ông và bà cụ già mò đến xác Thiện Tử. Người cha ôm đầu con truyền hơi thở, người mẹ đặt miệng vào vết thương cố hút chất độc ra. Trong cơn đau đớn họ nguyện cầu đức Phật cứu độ. Tức thì Phật Quán Thế Âm hiện ra, chữa lành vết thương cho Thiện Tử, và đồng thời cứu cha mẹ Thiện Tử khỏi mù loà. Cuốn kinh kết luận bằng lời dạy của đức Phật là hiếu để sẽ thắng mọi điều khổ ải. Câu chuyện này rất phổ thông trong dân gian Trung Hoa. Chuyện Thiện Tử còn được nhắc lại trong hai bổn kinh là &#8220;Lục Ðộ Thập Kinh&#8221; và &#8220;Pháp Uyển Châu Lâm.&#8221; Thầy Huyền Trang (Ðường Tam Tạng) cũng có thuật lại chuyện Thiện Tử trong sách &#8220;Ðại Ðường Tây Vực Ký&#8221;.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Sang đời Tống, chuyện Thiện Tử được hoàn toàn Trung Hoa hóa, trở thành một trong hai mươi bốn mô hình của Nhị Thập Tứ Hiếu và Thiện Tử được đổi tên là Yến Tử, chi tiết câu chuyện được đặt vào một cảnh vực Trung Hoa hơn.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Chuyện hiếu của Mục Liên tả trong kinh Vu Lan Bồn lại càng phổ thông hơn trong các nước Á Ðông theo Phật giáo Ðại Thừa. Kinh Vu-lan-bồn do đại sư Ấn độ Pháp Phong (Dharmaraksha, Ðàm-ma-la-sát, phiên âm chữ Nho) dịch vào cuối đời Tây Tấn. Bổn kinh này liên hệ trực tiếp với lễ Vu Lan, nội dung của bổn kinh lại còn trình bày rõ ràng hơn quan niệm của đạo Phật về chữ hiếu, ta đã nói ở đoạn trên.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Ý niệm xuất thế của đạo Phật, bỏ nhà đi tu, không trọn hiếu đạo với cha mẹ, được Kinh Vu Lan giải tỏa và người Trung Hoa cùng với các dân tộc khác ở Á Ðông đã nồng nhiệt chấp nhận phương cách giải thích như vậy. Ở Trung Hoa ngày đó, sự tích Mục Kiện Liên được phổ cập quanh năm trong nhân gian, không những trong chùa vào ngày lễ lạc, mà ở khắp mọi nơi, trong nhà thành câu hát ru em, ngoài chợ thành bài vè cho người hát xẩm, tạo nên một loại văn chương gọi là biền văn. Ðầu thế kỷ Hai mươi, khi khám phá ra các động thờ Phật tại Ðôn Hoàng (Tân Cương) ngừơi ta tìm được nhiều bổn biền văn này, như là &#8220;Mục Kiện Liên biền văn,&#8221; &#8220;Mục Kiện Liên Lục Khởi&#8221; và bộ &#8220;Ðại Mục Kiện Liên Minh Cứu Mẫu Kiến Văn tịnh độ.&#8221; Các tài liệu này đều được trước bạ trong sách &#8220;Ðôn hoàng trích yếu lục&#8221; của chánh phủ Trung Hoa Dân Quốc ấn hành tại Bắc Kinh năm 1931. Các bổn chánh đã bị người Âu châu chiếm đoạt, đem giữ tại Bibliothèque Nationale de Paris vàBritishMuseum.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Sự tích Mục Liên được kể rõ với đầy đủ chi tiết trong ba tài liệu nói trên, và từ ngày đó làm đề tài cho nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật tại Trung Hoa. Quan trọng hơn hết là một tác phẩm nghị luận (được kinh điển nhà Phật xếp vào bộ Luận) của đại sư Tông Mật. Nơi đây ta cần nói rõ hơn là ông xuất thân từ quý gia vọng tộc, từ nhỏ học đạo Khổng rất uyên thâm, và trở thành một bậc chân tu theo đạo Phật. Ông dựa trên Kinh Vu Lan để lập luận, so sánh chữ hiếu giữa đạo Khổng và đạo Phật. Theo ông, đạo Phật không khác đạo Khổng, đặt vấn đề hiếu đạo lên hàng đầu. Kinh Phật từ Ấn Ðộ sang &#8220;gồm có Kinh (là lời dạy của đức Phật) và Luật là giới hạnh của người tu Phật. Kinh đề ra nguyên tắc và trí huệ; Luật đề ra phép tắc để hành trì. Luật có cả hàng vạn điều, nhưng điều căn bản là hiếu đạo.&#8221; Ông dẫn chứng bổn kinh Phạm Võng (được xem là kinh Luật căn bản của Phật giáo Ðại thừa): &#8220;Khi đức Phật giác ngộ dưới cây Bồ đề, Ngài công bố luật Pratimoskha (tùy thuận giải thoát) cho người tu đạo bồ-tát, và luật này dựa trên nền tảng hiếu đạo.&#8221;</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Tông Mật cho rằng Nho giáo dạy chúng ta sống xứng đáng để thanh danh lại cho con cháu đời sau, nhưng chính Phật giáo lại dạy ta điều nhập thế là truyền bá lòng từ bi nhân ái cho thế hệ hiện tại đang sống chung quanh ta. Nho giáo dạy lễ nghi, chẳng hạn ngày giỗ ngày Tết phải sát sanh để làm giỗ tổ tiên; đạo Phật hiếu sinh hơn, dạy ta cầu nguyện nhưng không sinh sát. Tông Mật còn đi xa hơn, đề quyết là đức Phật ngày xưa bỏ ngôi đi tu chính là vì &#8220;muốn báo hiếu cho cha mẹ, không muốn cha mẹ kiếp kiếp bị trầm luân.&#8221;</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Lập luận dựa trên kinh Vu Lan để trình bày quan điểm của đạo Phật đối với chữ hiếu, như Tông Mật và các nhà học Phật thời bấy giờ chắc chắn đã tháo gỡ được rất nhiều các mối dè dặt của giới nho sĩ đối với đạo của Thích Ca. Do đó mà vào đời Thịnh Ðường, lúc đạo Phật thâu hút toàn bộ nhân dân Á Ðông và Trung Hoa, người ta đã thiết lễ Vu Lan như là một ngày hội chánh, đầy ý nghiã tôn giáo và xã hội.</span></p>
<p><a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2014/07/tr-tang.jpg"><img class="alignleft size-full wp-image-784" title="tr tang" src="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2014/07/tr-tang.jpg" alt="" width="276" height="182" /></a></p>
<h3><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Lễ Vu lan và lễ Trung nguyên.</span></h3>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Một điều thường gây thắc mắc cho người học Phật là sự trùng hợp giữa lễ Vu Lan và lễ Trung Nguyên. Xã hội nông nghiệp Trung Hoa buộc người nông dân lam lũ suốt năm trừ ra ba dịp nghỉ ngơi giải trí: đầu năm có lễ Thượng Nguyên, giữa năm có lễ Trung Nguyên, và cuối năm lễ Hạ Nguyên. Một số nhà nghiên cứu về văn minh Trung Quốc khẳng định nguồn gốc của ba buổi lễ trên xuất từ đạo Lão, hướng mọi hoạt động nhân sinh về thiên nhiên. Vào dịp đầu năm, người nông dân vui sống hội hè đình đám suốt tháng giêng. Vào cuối năm lại nô nức nghênh tiếp năm mới, người Tàu thiết lễ Hạ Nguyên vào rằm tháng Mười. Giữa tháng Bảy là thời kỳ nắng bức nhất trong năm, cũng là lúc nông dân gặt hái mùa màng vừa xong, nên có cơ hội tổ chức hội hè đình đám làm lễ Trung Nguyên. Khí trời nắng ấm, người Tàu đi từ làng này sang thôn khác thăm viếng họ hàng và bạn bè, biếu xén qùa cáp. Lễ Trung Nguyên thành ra một cơ hội thắt chặc đời sống gia tộc và cộng đồng.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Lúc đạo Phật vào Trung Hoa, sẵn có tính cách linh động tập quán, lại gặp môi trường thuận tiện là người Trung Hoa rất chuộng thực tế, ghép ba buổi lễ trên thành ra ba ngày lễ Phật: Thượng Nguyên, Trung Nguyên và Hạ Nguyên. Lễ Vu Lan thành ra trùng hợp với lễ Trung Nguyên. Nhà chùa ngày đó rất giàu có, cung cấp cảnh trí cho sinh hoạt cộng đồng trong dịp Trung Nguyên, và vào ngày rằm thiết lễ Phật nơi chánh điện. Tập tục này từ Trung Hoa theo đạo Phật sang Nhật Bổn, ngày Trung Nguyên gọi là Chugen, lễ cúng cô hồn, ta sẽ nói ở sau.</span></p>
<h3><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Lễ Vu Lan có từ Ấn Ðộ hay xuất khởi tại Trung Hoa?</span></h3>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Ðọc kỹ những tài liệu ở trên về gốc tích lễ Vu Lan ở Ấn Ðộ và Trung Hoa do các học giả mới của trường Ấn Ðộ và trường Nhật Bổn trình bày, người học Phật như chúng ta không thể tự kiềm chế để đặt câu hỏi là lễ Vu Lan đã thật có tại Ấn Ðộ từ ngày xa xưa trước Thích Ca chăng, hay là lễ Vu Lan chỉ là một sản phẩm do nhu cầu hoằng dương đạo Phật lúc đạo Phật vào Trung Hoa. Vế thứ nhất của câu hỏi &#8220;trước Thích-ca có lễ Vu-lan không&#8221; có lẽ rất hợp lý, vì tại các quốc gia sống trong văn minh Ấn Ðộ và cùng thờ đạo Phật như Miến Ðiện, Thái Lan, Cam Bốt,Lào,NamDương&#8230; không thấy thiết lễ Vu Lan. Tuy nhiên điều thắc mắc này dễ giải đáp. Tập tục thờ cúng người khuất vãn đã có trong kinh Vệ Ðà, trước đức Phật cả nghìn năm, tất nhiên phải được tiếp tục trong thời Phật giáo ở Ấn Ðộ, và vẫn tồn tại cho đến ngày nay tại Ấn Ðộ.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Vế thứ hai của câu hỏi, ta thử đặt lại cho gọn và dễ hiểu: Kinh Ullambana Sutra do đức Phật thuyết, được dịch qua tiếng Hán, hay chỉ là sản phẩm của tín đồ đức Phật khi đi truyền giáo sang Trung Hoa?</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Nếu ta căn cứ trên bổn tài liệu về thư mục quan trọng nhất của kinh điển Phật giáo do đại sư Bunyo Nanjio soạn thảo Catalogue Chinese Translation of The Buddhist Tripitaka, Oxford 1883, Kinh Ullambana Sutra được ghi là đã chép qua văn tự dưới thời Phật giáo Nguyên thủy và sau được dịch qua Hán ngữ. Nhưng có ba điểm nghi vấn mà các học giả trường Ðại thừa Nhật Bổn nêu lên, đề nghị phải nghiên cứu lại. Thứ nhất là về niên lịch và xuất xứ của cuốn kinh và cá nhân của dịch giả. Kinh điển nhà Phật được tổng kê vào nhiều bổn tổng thư mục (catalogue), và cuốn kinh Ullambana Sutra được tìm thấy trong bổn tổng thư mục Xuất Tam tạng Ký tập, Quyển IV, ấn hành vào khoảng thời gian 445-518 TL. Không có tên dịch giả, chỉ ghi đơn sơ một giòng: &#8220;Không thấy danh tánh dịch giả.&#8221; Cuốn tổng thư mục tiếp theo Lịch đại tam bửu ký ghi cuốn kinh, lại có tên người dịch là đại sư Dharmaraksa (Ðàm-ma-la-sát, còn gọi là Pháp Phong), sống dưới đời Tây Tấn. Chỉ một tín hiệu là hai bổn tổng thư mục gần như đương thời mà một bổn có tên dịch giả, một bổn không, cũng đủ để cho đời sau nghi ngại.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Ðiểm nghi vấn thứ hai do chính cuốn kinh tạo nên. Từ ullambana được dịch là vu-lan-bồn. Ullam có nghiã là đảo huyền, treo ngược, phiên âm thành vu-lan, nhưng từ chữ bana qua chữ bồn (là chiếc thuyền, chiếc khay đựng thực phẩm) tuy có lời giải thích của đại sư Tông Mật và những điểm dẫn chứng, ta vẫn thấy khó thỏa mãn được điều đòi hỏi suy luận duy lý.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Ðiểm nghi vấn quan trọng hơn hết là nội dung bổn kinh. Ngoài bổn Vu Lan Bồn Kinh do Dharmaraksa dịch, ta còn tìm thấy trong đại tập Pháp Uyển Châu Lâm một bản dịch thứ hai với tựa đề Báo Ân Phụ Mẫu Kinh, không có tên dịch giả. Phần đầu của hai bổn dịch không thấy điểm nào khác nhau. Duy phần kết của bổn dịch thứ hai, Báo Ân Phụ Mẫu Kinh chấm dứt ở chỗ ông Mục Kiện Liên sau trai giới vào hạ ba tháng (từ rằm tháng Tư cho đến rằm tháng Bảy), dâng thực phẩm hương hoa cho tăng đoàn xin giúp lời cầu nguyện, và nhờ vậy bà mẹ được xóa tội đọa đày. Bổn dịch thứ nhất, Kinh Vu Lan bổn Kinh, dài hơn bổn thứ hai, có thêm đoạn ông Mục Kiện Liên cầu xin đức Phật cho tất cả cha mẹ tổ tiên của chúng sinh đang bị đọa đày, nếu có con cái hiếu thảo biết dâng lễ Vu Lan cầu xin chuộc tội, cũng sẽ được xóa tội. Ðức Phật đã phán quyết y theo lời xin.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Như vậy, các dữ kiện vừa trình bày trên dẫn đến kết luận là Kinh Vu Lan Bồn nhất định đã được đức Phật thuyết vào thời kỳ nguyên thủy. Vì nhu cầu hoằng pháp phải thích ứng vào bổn tính chuộng thiết thực của người Trung Hoa, phần phụ lục chi tiết ở đoạn sau đã được thay đổi khi phiên dịch tại Trung Hoa.</span></p>
<h3><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Lễ Vu Lan tại Nhật Bổn</span></h3>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Nước Nhật Bổn ngày nay đứng vào hàng đầu trong kỷ nguyên văn minh hậu kỹ nghệ, được sắp hạng tối ưu trong các lãnh vực tiền phong như điện toán, tín hiệu&#8230; Và cũng không có một dân tộc nào như người Nhật, đi mau và đi trước nhưng vẫn giữ tối đa nếp sống cổ truyền đã có từ mấy nghìn năm trước.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Lễ Vu-lan tại Nhật gọi là lễ Bon, viết tắt chữ urabon, còn viết là urambon. Trước Thế-chiến II, Vu-lan Bon là ngày lễ công lập, công sở và trường học đóng cửa, nhân công được nghỉ việc ăn lương. Hai ngày lễ quan trọng nhất trong năm là ngày Nguyên đán và ngày Vu Lan Bon. Tưởng cần nhắc lại là nước Nhật đang dùng dương lịch nhưng vài địa phương và trong các chùa vẫn giữ âm lịch. Tục lệ khuyến khích những người đi làm ăn xa gia đình trong dịp Nguyên đán và Vu Lan phải trở về nhà sum họp và dâng lễ cúng tổ tiên. Vì vậy mà vào hai dịp lễ lớn đó các phương tiện chuyên chở tư nhân hay công cộng đều tấp nập kèn kẹt từ cuối tháng Sáu cho đến giữa tháng Bảy.</span></p>
<p><a href="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2014/07/levula.jpg"><img class="alignleft size-full wp-image-783" title="levula" src="http://thanhlongcotu.com/wp-content/uploads/2014/07/levula.jpg" alt="" width="275" height="183" /></a></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Cho đến ngày nay, trong các cộng đồng truyền thông đặc biệt ở vùng quê, dân chúng chuẩn bị lễ Vu Lan Bon từ ngày mồng một tháng Bảy. Trong mỗi gia cư người Nhật đều có một bàn thờ Phật gọi là Budsudan. Ðầu tháng Bảy, người ta đặt trước bàn thờ Phật một chiếc bàn vong Shoryodana, trên bàn vong đặt bài vị để đón tiếp hương linh người qúa vãn. Ngày mồng Bảy gọi là ngày Nanoka Bon, gia chủ hay người trưởng tộc đi mở cửa mả (tức là quét dọn, làm cỏ) và làm lễ tại ngôi mộ gia tiên, và từ ngôi mộ về đến nhà trải một giây vải trắng gọi là bommichi để chỉ lối cho người chết trở lại nhà. Trên lối đi nhiều nơi còn treo đèn lồng ở mỗi khúc rẽ cho vong hồn khỏi lạc, và mỗi gia cư tứ bề thắp đèn lồng treo quanh máng xối. Nhiều gia đình ý tứ hơn, đem cúng cả ngựa, cả xe kết bằng rơm, hoặc bằng giấy, bằng hoa quả để cho người chết dùng làm phương tiện trở lại nhà. Ngày 13 gọi là ngày &#8220;đón vong hồn&#8221; (Mukac Bon), ngoài mộ và trên bàn vong chưng đầy hoa đẹp gọi là Bonbana. Lúc xế chiều, đốt đèn ngoài cửa tiếp đón vong hồn. Lửa này giữ cho đến ngày 16, gọi là ngày &#8220;tiễn đưa vong hồn&#8221; (Okuri Bon). Tại một vài địa phương lại còn có tục lệ nhảy múa Vu Lan gọi là Bon odori, chào mừng tổ tiên trở lại nhà sum họp với con cháu mỗi năm một lần. Sau Thế chiến II, để phát triển kỹ nghệ du lịch, lệ nhảy múa Bon odori được tổ chức rất đẹp và trọng thể.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Như trên đã nói, người Trung Hoa theo tập tục Ấn Ðộ thiết lễ Vu Lan, biến đổi thành ra buổi lễ chuộc tội cho tổ tiên riêng mỗi gia đình. Về sau, ý niệm từ bi của đạo Phật phát triển mạnh, lễ Vu Lan hướng về người chết nói chung, không riêng trong gia đình.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Người Nhật đem lễ Vu Lan vào nước Nhật dưới thời nữ hoàng Suiko và phát huy rõ hơn cái ý niệm từ bi hiếu sinh của đạo Phật. Chồng của nữ hoàng Suiko là Thánh Ðức Thái Tử trị vì từ năm 574 tới năm 622 TL. Ông là người phát huy đạo Phật lớn mạnh tại Nhật, đưa Phật giáo lên làm quốc giáo. Năm 606, nữ hoàng chỉ dụ cho tất cả chùa chiền trong nước thiết lễ Vu Lan, và tiếp tục mỗi năm. Người Nhật cũng theo đạo Phật Trung Hoa thiết lễ Trung Nguyên, gọi là Chugen, nhưng biến đổi có quy tắc hơn. Tại Nhật, lễ Vu Lan Bon được phân biệt hai phần: lễ cúng tổ tiên trong gia đình, và lễ cúng cô hồn. Lễ cúng cô hồn có tên là Segaki-e, có nghiã là dâng thực phẩm cho linh hồn bị phiêu bạt đói khát, là một ngày lễ Phật riêng biệt, thường không có ngày nhất định, nhưng về sau thiết vào dịp Vu Lan, lấy một ngày trong bốn ngày urabon làm lễ.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Giữa thế kỷ Mười chín, Thiên hoàng Minh Trị canh tân nước Nhật. Công cuộc duy tân và kỹ nghệ hóa buộc phải giản dị hóa các hội hè đình đám, nên lễ urabon và sagaki-e ngày nay biến thành lễ chung.</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Nước Nhật phú cường hiện tại có khuynh hướng trở lại đời sống tinh thần và tôn giáo. Ta hãy nghe giáo sư Kenneth Chen, viện Ðại học Princeton, nói về lễ Vu Lan tại Nhật ngày nay (&#8220;Buddhism, The Light of Asia,&#8221; Barron, New York 1978, người viết phỏng dịch trang 263). &#8220;Trong mỗi gia đình, dân chúng chưng dọn bàn thờ, dâng cúng hoa quả và thức ăn đặc biệt cho vong hồn. Chiếu trải ra giữa sân, đặt các món ăn như mì sợi, chè kê, canh bí ngô, canh dưa gang, cá hấp. Ðúng ngày mười ba, lại cúng một món chè trôi nước đặc biệt để tiếp đón khách vong hồn mới về. Ngày hôm sau mười bốn, cúng chè khoai và cà hấp trộn mè. Ngày mười lăm hay mười sáu cúng tiễn, có cơm đùm lá sen, và chè bọc nhân đậu. Mỗi ngày, hương đèn trên bàn thờ không để lụi, luôn luôn châm thêm hương hoa trà nước. Vào ngày mười ba, khi bắt đầu lễ, người trong nhà đi viếng và thắp đèn trên mộ, đồng thời thắp đèn ở cổng nhà, hàm ý dẫn đường cho vong hồn biết lối trở lại nhà hưởng cúng phẩm. Ngày mười lăm cúng tiễn, cũng thắp đèn gọi là đèn tạm biệt tiễn đưa vong hồn. Tại các làng xóm gần sông lạch và hồ biển, thường có người chết vì sông nước, lại có lệ sắm các thuyền bé tí hon, đặt cúng phẩm lên trên và thắp đèn đem thả xuống giòng nước. Cái hình ảnh đèn thắp trên cổng nhà, tiếp với ánh sáng le lói trên con thuyền tí hon dưới sông trôi xa theo ngọn nước, tiêu biểu cho cái ý niệm gắn liền người sống thực tại với người đã ra đi vào cõi hư vô.&#8221;</span></p>
<p><span style="font-size: 16px; color: #000080;">Bài sưu khảo nhỏ bé này chỉ hoàn tất khi bổ túc được việc tìm hiểu lễ Vu Lan tại ViệtNam. Nếu chúng ta thử đặt qua bên cái mặc cảm sô-vanh, chúng ta phải nhận thức là các tài liệu nghiên cứu xã hội và tôn giáo của quê hương ta rất nghèo nàn. Suốt một thế kỷ sống dưới sự đô hộ của người Pháp, tiếp theo là một cuộc chiến tranh triền miên, có mấy đủ phương tiện và thì giờ để tìm học cặn kẽ những sinh hoạt tôn giáo như vấn đề nhỏ nêu ra ở đây là lễ Vu Lan. Ở Hà Nội hiện nay có một viện Nghiên cứu Khoa học Xã hội (chắc phải có phần cho tôn giáo), ở ngoài nước các phương tiện chất xám và vật chất càng đầy đủ hơn, ta hy vọng trong tương lai sẽ được đọc và học một tác phẩm khảo cứu tường tận về lễ Vu Lan ViệtNam.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 16px; color: #000080;"><em><strong>Nguyễn Phúc Bửu Tập</strong></em></span></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://thanhlongcotu.com/?feed=rss2&#038;p=774</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
